Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Bắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Miền Bắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

Hang Luồn Ao Dong - Vẻ đẹp hoang sơ (Hà Nam)

Được sự sắp đặt khéo léo của tự nhiên, với mặt nước trong xanh, núi đá vôi, hang động thạch nhũ… ao Dong – hang Luồn đang trở thành điểm đến mới hứa hẹn thu hút du khách đến Hà Nam.
Từ Hà Nội, chúng tôi chạy dọc quốc lộ 1A cũ, qua địa phận huyện Thường Tín, Phú Xuyên để bắt đầu hành trình khám phá Hà Nam một ngày.
Hà Nam không phải là tỉnh được nhắc tới với nhiều điểm du lịch nổi tiếng, chủ yếu với hệ thống các ngôi chùa như chùa bà Đanh, Long Đọi Sơn cùng những nhà thờ có kiến trúc độc đáo. Vì vậy du lịch Hà Nam còn khá mới mẻ với nhiều người. Nhưng có lẽ từ bây giờ, những ai thích trải nghiệm sẽ có thêm một điểm đến trong sổ tay mỗi khi nhớ đến vùng đất này: ao Dong – hang Luồn.

Ngoài những địa điểm nổi tiếng không thể bỏ qua như chùa Bà Đanh, nhà Bá Kiến cũng như thưởng thức các món ăn nổi tiếng như bánh cuốn Phủ Lý, chuối ngự, cá kho làng Đại Hoàng, trong danh sách những nơi sẽ đi qua có một điểm khá mới mẻ mà tôi mới nghe lần đầu. Đó là ao Dong – hang Luồn.
Ao Dong thuộc địa phận xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng. Từ trung tâm thành phố Phủ Lý, sau khi qua cầu Hồng Phú, chúng tôi hỏi đường tới Bút Phong khá dễ dàng vì người dân bên đường sẵn lòng chỉ dẫn.
Do chưa được khai thác du lịch nên phải chú ý quan sát mới nhìn thấy chỉ dẫn vào ao Dong viết trên tấm gỗ dựng ven đường. Là vùng khai thác đá cho ngành công nghiệp ximăng, việc tồn tại một nơi có vẻ đẹp yên bình có thể khiến nhiều người bất ngờ.
Đi hết con dốc dẫn vào khu khai thác đá, cả nhóm gửi xe ở chân dốc rồi tìm đường tản bộ xuống ao.
Con đường dẫn xuống ao Dong - hang Luồn - Ảnh: Minh Đức
Con đường dẫn xuống ao Dong – hang Luồn – Ảnh: Minh Đức
Cô lái đò ao Dong - Ảnh: Minh Đức
Cô lái đò ao Dong – Ảnh: Minh Đức
Do các dãy núi vòng cung bao bọc nên khu vực này trước kia không được nhiều người biết tới cho đến khi các hoạt động khai thác đá làm lộ ra con đường dẫn xuống khu vực hang Luồn.
Tiếp tục đi bộ hết con dốc, rẽ sang một lối nhỏ lần theo sườn núi toàn đá hộc mới tới được ao Dong.
Bỏ lại những ồn ào, bụi bặm bên ngoài khu công trường, quang cảnh trước mắt hiện lên thơ mộng và trong lành. Chỉ vỏn vẹn hơn 300 mẫu nhưng ao Dong có đầy đủ vẻ đẹp như các địa danh đá vôi nổi tiếng ở Tam Cốc, Tràng An (Ninh Bình).
Như một tấm gương lớn soi bóng thế núi hùng vĩ khắp phía, mặt nước ao xanh trong nhìn rõ những rong rêu đang uốn mình theo làn nước, bên trên là những thảm hoa súng bung nở…
Không ai biết cái tên ao Dong có từ đâu, nhưng nhiều người cho rằng tên gốc là “rong” vì có nhiều rong rêu, sau đó đọc sai thành “Dong”.
Ở đây chỉ có một ngôi nhà nhỏ bên núi của người trông coi ao. Chúng tôi hỏi thuê thuyền thì được biết khách từ xa tới đây thường phải trả 10.000 đồng tham quan và thêm tiền đò.
Tuy nhiên, ngồi chuyện trò một lúc, người phụ nữ đồng ý giá 150.000 đồng cho sáu người dạo chơi trên thuyền, không thu thêm “vé vào cửa”.
Mùa cạn du khách vẫn có thể đi vào hang Luồn
Mùa cạn du khách vẫn có thể đi vào hang Luồn
Vẻ đẹp nơi hang Luồn thông ra bên ngoài - Ảnh: Minh Đức
Vẻ đẹp nơi hang Luồn thông ra bên ngoài – Ảnh: Minh Đức
Đang mùa cạn nên thuyền đi vào hang khá dễ dàng. Hang Luồn có chiều dài khoảng 400m, kích thước khá nhỏ, nhưng vòm cửa hang rộng với những tán cây xòa bóng. Mùa nước lên thuyền không thể đi vào hang do nước ngập kín cửa.
Vừa tiến tới cửa hang mọi người đã cảm nhận được không khí mát lạnh và gió hun hút thông qua hai đầu hang. Cô lái đò đưa chúng tôi đèn pin và vừa chèo vừa chỉ dẫn, giới thiệu từng thạch nhũ trên trần hang.
Chưa bị bàn tay con người tác động và không bị ánh đèn làm biến sắc nên những thạch nhũ đủ các hình dáng trong hang vẫn giữ được vẻ đẹp tự nhiên, cuốn hút.
Len lỏi sâu vào hang cảm giác như con thuyền đang khẽ khàng chạm vào thế giới cổ tích huyền ảo.
Đi hết lòng hang, mọi người như hòa mình vào khung cảnh yên bình của những cánh đồng dưới chân núi đá vôi bên ngoài. Dừng chân một lúc, thuyền quay lại con đường cũ, đưa khách ghé thăm thêm hang động phía tay phải.
Qua một cây cầu đá nhỏ là tiến vào cổng hang nước thứ hai. Đây là hang kín và ngắn với những vùng nước sâu. Những khối nhũ đá trong hang tạo hình đa dạng hơn, từ những bông hoa hồng cho tới hình ảnh sóng nước, bầu ngực phụ nữ…
Những thạch nhũ muôn hình vạn trạng - Ảnh: Minh Đức
Những thạch nhũ muôn hình vạn trạng – Ảnh: Minh Đức
Cây cầu đá được người dân dựng lên, tạo điểm nhấn cho bức tranh thủy mặc - Ảnh: Minh Đức
Cây cầu đá được người dân dựng lên, tạo điểm nhấn cho bức tranh thủy mặc – Ảnh: Minh Đức
Thỏa thích ngắm cảnh, chụp ảnh… chúng tôi vừa lên bờ thì gặp mấy người dân địa phương ghé xuống ao thư giãn sau giờ làm việc về.
Trò chuyện với họ mới hiểu nhiều hơn về mảnh đất này. Đây cũng là nơi mà chiều chiều người dân xung quanh tụ tập chuyện trò, tắm mát hoặc tận hưởng chút yên bình cuối ngày.
Sau những giờ ngao du sơn thủy, cả nhóm vui vẻ nán lại, lắng nghe tiếng chim hót và tiếng nước chảy róc rách từ trên đỉnh núi.
Rời ao Dong – hang Luồn khi nắng chiều dần dịu lại, khung cảnh thiên nhiên như tĩnh lặng, u tịch hơn bao giờ hết. Có lẽ từ bây giờ chúng tôi đã có thêm một điểm đến trong sổ tay mỗi khi nhớ đến đất Hà Nam.

Bát Cảnh Sơn (Hà Nam)

Với hình sông thế núi ấy cùng với hệ thống đền, chùa cổ kính uy nghiêm, nơi đây từ xưa được coi là một thắng cảnh của trấn Sơn Nam.Theo Lịch triều hiến chương loại chí (phần Dư địa chí) của Phan Huy Chú thì vào thế kỷ thứ 16, Nghị tổ Trịnh Doanh qua đây chiêm ngưỡng đã ví Bát cảnh sơn với Tiêu Tương bên Trung Quốc và cho lập hành cung để đi về thưởng ngoạn.
Xưa kia, ở Bát cảnh sơn có 8 ngôi chùa và một ngôi miếu thờ thổ đại thần linh được bài trí xây dựng theo thuyết bát quái ngũ hành, cũng từ đó cái tên Bát Cảnh Sơn đã được đặt cho nơi đây. 

Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là do thời gian và chiến tranh tàn phá, thắng cảnh Bát Cảnh Sơn đã bị phá hoại đi rất nhiều. Trong số 8 ngôi chùa, miếu thờ chỉ còn lại 3 ngôi chùa còn nguyên vẹn, đó là đền tiên ông và chùa Tam Giáo, chùa Ông.
Cảnh quan hồ nước trước chùa Ông.
Xét theo tổng thể ở phạm vi rộng thì Bát cảnh sơn là một cụm du lịch của quần thể Hương Sơn bởi hai thắng cảnh này rất gần gũi, tiếp giáp với nhau liền mạch trong dãy núi đá vôi Hà Nam - Hà Tây cũ. Theo vị trí địa lý hành chính, Bát cảnh sơn là "tiểu thắng cảnh", là cửa ngõ Hương Sơn, nằm trong xã Tượng Linh, nơi ngã ba của 3 huyện Kim Bảng (Hà Nam), Mỹ Đức, Ứng Hoà (Hà Tây cũ).
Trong quần thể ấy, nổi bật là đền Tiên Ông nằm trên núi Tượng Lĩnh. Đi qua 150 bậc đá cao chừng 100 m, ngôi đền uy nghi, nằm sững sừng trên lưng chừng núi sẽ hiện ra trước mắt. Nhiều tao nhân mặc khách đến đây muốn giải thoát khỏi trần tục, để rồi yêu luôn chốn này. Nhiều bài thơ, tựa đề đã được khắc lên những cánh cửa ca tụng vẻ đẹp và cõi thiêng của đền. Trong khuôn viên của đền có nhiều thần phả, sắc phong quý hiếm cũng như những hoành phi, đại tự, câu đối có từ xa xưa. Ngôi đền được chia thành 5 gian nhà khách, 3 gian thờ tổ. Đứng trên đây có thể bao quát được toàn bộ xã Tượng Lĩnh đang từng ngày thay da đổi thịt, với những cánh đồng thẳng cánh cò bay và hàng loạt ngôi nhà khang trang mọc lên san sát.
Hình ảnh toàn bộ những ngọn núi quanh xã Tượng Lĩnh (hình ảnh được chụp từ vị trí chùa Kiêu). 
Ngay dưới chân của đền Tiên Ông là chùa Ông, trước kia chùa rất rộng nhưng đến nay đã bị thu hẹp đáng kể do thiên nhiên và chiến tranh. Phía trước chùa là một hồ rộng, mỗi khi hoàng hôn buông, nơi đây đẹp như tranh thủy mặc. Trong bức tranh đó có, núi, sông hòa quyện với con người.
Cách chùa Ông chừng 1 km, men theo sườn núi là đến chùa Tam Giáo. Chùa khi xưa có hàng trăm pho tượng phật uy nghi tráng lệ. Ở đây còn có một dòng nước từ trong núi chảy ra. Xung quanh chùa Tam Giáo có rất nhiều hang động đẹp, nhiều nhũ đá với các con vật khác nhau. Cho đến nay, trong quần thể Bát Cảnh Sơn, chùa Tam Giáo là địa điểm thu hút khách du lịch nhiều nhất. Hàng ngày tiếng mõ vẫn vang lên, chốn uy nghiêm Tượng Lĩnh vì thế trở nên linh thiêng.
Cách chùa Ông chừng 1 km, men theo sườn núi là đến chùa Tam Giáo. Một số ngôi miếu, chùa khác như chùa Chùa Bà, chùa Bông, chùa Dâu đến nay không còn dấu vết.
Một số ngôi miếu, chùa khác bị phá hủy phải kể đến như: Chùa kiêu, chùa bà, chùa dâu, chùa vân mộng, chùa bông. Trong đó chùa Kiêu đang trong quá trình xây dựng, chùa Kiêu nằm trên đỉnh núi phía nam xã Tượng Lĩnh, có độ cao chừng 200 m. Đường lên chùa Kiêu cây cỏ um tùm, nhưng con người sẽ tìm được cảm giác thanh thản, khi lên đến đỉnh chùa. Hiện ở đây đã lập am hương, tưởng nhớ các vị anh thần ngày xưa. Những vết tích còn lại của chùa Kiêu phải kể tới như, một nền móng và một động rộng 10 m2. Ngay trước động có ghi: Nhật Nguyệt Trường Quang, tục truyền ngày xưa cứ đêm trăng sáng, Tiên Ông cùng ngồi đánh cờ với các quan nhà trời ở đây.
Từ chùa Kiêu, vượt qua đường đèo và những sườn núi cheo leo là đến chùa Vân Mộng, tương truyền chùa Vân Mông là nơi mà Thiền sư Nguyễn Minh Không đã từng tu hành và trụ trì. Tục truyền, vua nhà Lý bị đau mắt không phương thuốc nào chữa được. Nhà Vua nghe tin tại chùa Vân Mộng có Quỷ Cốc tiên sinh thông tuệ thiên địa bèn đến cầu, quỷ cốc tiên sinh cho rằng nhà vua đau mắt là do động huyệt xoáy rồng ở khúc sông Hồng, cần có người hiến tế thì nhà vua mới khỏi bệnh. Sau có ông bà bán dầu Vũ Phục nhảy xuống sông, quả nhiên nhà vua lành mắt.  Ngôi chùa cũng đã đi vào sách vở với ghi chép của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Kẽm Trống- Nam Thiên đệ Tam Động (Hà Nam)

Cách Hà Nội 80km về phía Nam, Kẽm Trống (xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn) là một danh thắng độc đáo được tạo ra bởi sông Đáy là ranh giới giữa Hà Nam - Ninh Bình. Năm 1962, Kẽm Trống được công nhận là một di tích thắng cảnh quốc gia.
Những dãy núi quanh Kẽm Trống có nhiều hang động. Nhưng được nhắc đến nhiều nhất trong đó là Địch Lộng. Nơi này nổi tiếng bởi ngoài vẻ đẹp của động, còn có một khu đình chùa cổ kính. Quần thể động - chùa Địch Lộng đẹp tới mức đã được vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữ "Nam thiên đệ tam động", có nghĩa là động đẹp thứ ba ở trời Nam. 
Tương truyền, vào năm 1739, một tiều phu đi kiếm củi, leo lên núi đã phát hiện ra cửa động. Khi vào trong, thấy có nhiều nhũ đá đẹp, đặc biệt trông thấy một nhũ đá có hình giống như tượng Phật nên lập bàn thờ Phật ở đó. Đến năm 1740 thì hình thành chùa. Nói Động - Chùa Địch Lộng là nói gọn, chứ thực ra tại đây còn có đình với 16 cột đá nguyên khối, nên còn gọi là "đình đá"; có đền thờ Lý Quốc Sư; hồ bán nguyệt, 5 tháp cao ba tầng; ba gian chùa Hạ, ở gian giữa có treo cuốn thư chữ Hán "Lưu Ly Bảo Điện" nói lên sự quý giá của ngôi chùa... Từ Chùa Hạ qua phủ Đức Ông, tiếp tục leo lên thêm 105 bậc đá nữa sẽ đến hang động khiến bạn không thể không sửng sốt trước sự kỳ diệu của tạo hóa và sức tưởng tượng vô biên của con người. Trên cửa động đề 6 chữ: "Nham Sơn động, Cổ Am tự" là tên "cúng cơm" của Động - Chùa Địch Lộng. Hai bên cửa động có hai tượng Hộ Pháp, trên mái vòm hang đá cao 8 mét treo quả chuông nặng gần một tấn, được đúc từ thời nhà Nguyễn. Sân trước động có phủ thờ Bà Chúa Thượng Ngàn, phủ thờ Đức Thánh Mẫu. Cũng tại đây, hai "giếng ngọc" quanh năm đón những giọt nước từ nhũ đá liên tục nhỏ xuống mát rượi, có tượng ông Thiện, ông Ác cưỡi trên sư tử. Đứng tại "sân" này, phía bên phải là ngôi chùa có "mái" là vòm hang cao khoảng 20 mét, sâu khoảng 30 - 40 mét với khá nhiều tượng được sắp xếp từ ngoài vào trong, từ thấp lên cao. Đặc biệt là 3 pho tượng Tam Thế Phật sơn son thiếp vàng được ban vào thời vua Thiệu Trị và tượng Phật Bà Quan Âm, tượng A Di Đà được tạc bằng đá xanh nguyên khối. Trong động Địch Lộng còn có hang Tối và hang Sáng. Hang Tối nằm ở phía trái. Vào hang, du khách sẽ cảm thấy choáng ngợp bởi khối nhũ đá to, tròn, nhẵn lì mọc từ nền hang nhô lên. Tục truyền, đó là bầu sữa mẹ của tạo hóa. Từ trên nóc động, có nhiều nhũ đá chảy xuống trông giống như những cột chống trời. Tại đây, bạn sẽ có cảm giác như lạc vào cõi trùng điệp của đá với đủ mọi hình dáng ngoạn mục. Mỗi không gian của vách động, trần động là một bức tranh nghệ thuật, những nét chạm khắc tuyệt vời của thiên nhiên, đạt đến mức tinh xảo mà con người không thể nào làm được. Đi hết hang Tối là đến hang Sáng. Ở trên cao, cửa hang Sáng thắt hẹp lại. Một khoảng lộ thiên, khi có gió thổi mạnh vào trong động phát ra âm thanh của đá nghe như tiếng sáo. Vì vậy động mang tên là Địch Lộng, nghĩa là ống sáo thổi gió. Điều độc đáo ở hang Tối và hang Sáng là các thạch nhũ, lấy đá gõ vào thì lanh lảnh như tiếng chuông. Đó là những thạch cầm của thiên nhiên. Đặc biệt hơn nữa là những dải nhũ đá trong hang lấp lánh bảy sắc cầu vồng và mầu sắc thay đổi theo ánh sáng mặt trời. Cùng với nét đẹp mê hồn, Động - Chùa Địch Lộng còn là di tích lịch sử trong kháng chiến chống Pháp và là nơi điều trị cho các nạn nhân của bom đạn Mỹ những năm chiến tranh ác liệt

Chùa Trinh Tiết và những bí ẩn (Hà Nam)

Ban quản lý di tích tỉnh Hà Nam hiện đang  lưu giữ cuốn Ngọc phả Bạch Hoa công chúa chùa Trinh Sơn triều Trần, cuốn sách này do Tiến sĩ Lê Tung soạn ngày 2 tháng 5 năm Hồng Đức thứ 21 (1490), được các nhà nghiên cứu văn hóa tìm thấy ở chùa Trinh Tiết. Theo cuốn Ngọc phả, công chúa Bạch Hoa sinh năm Nhâm Tuất (1382), là con gái của Chiêu Định Vương (tức vua Thuận Tông nhà Trần) và thứ phi Diệu Hiền.  Một lần, thầy tướng Tựu Hòa là bạn của Chiêu Định Vương đến chơi, nói rằng hậu vận của Vương sẽ gặp họa, khuyên Vương nên thay tên đổi họ, rời bỏ triều đình để đi buôn, còn cô gái Bạch Hoa thì nên cho vào chùa nhờ Phật độ mới yên thân được. Chiêu Định Vương không cho là phải, nhưng vẫn đưa 10 lạng vàng biếu tặng. Tựu Hòa không nhận, nói: Tôi đã đủ ăn mặc, không cần vàng bạc, chỉ tiếc lời khuyên Vương chẳng khác gì nước đổ lá khoai. Rồi từ đó Tựu Hòa không qua lại thăm Chiêu Định Vương nữa
 Công chúa Bạch Hoa rất hiếu học, thông làu các sách kim cổ. Khi Chiêu Định Vương lên ngôi vua năm 1388, Bạch Hoa tuy còn nhỏ nhưng đã từng khuyên cha nhiều việc: giảm nhẹ thuế nông tang, khuyến dân cày cấy, đặt các trạm tuần kiểm thu thuế buôn bán, kén người hiền tài giúp nước. Năm 1397, quyền thần Hồ Quý Ly thâu tóm quyền binh trong triều ngoài lộ, ép vua Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Tháng 3 năm Mậu Dần (1398), Hồ Quý Ly bắt Vương đang ở ngôi vua đi tu tại cung Bảo Thanh, nhường lại ngai vàng cho con là Trần Án khi ấy mới 3 tuổi. Không lâu sau đó, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, rồi truy sát những người trong tông tộc họ Trần.
chuatrinhtiet-1.gif
Tòa chính tẩm chùa Trinh Tiết
Bấy giờ công chúa Bạch Hoa 16 tuổi, vô cùng xinh đẹp. Sợ rằng tính mệnh của nàng sẽ bị họ Hồ làm hại, Tựu Hòa đã sai Bằng Cử là một người nhân từ và trung thực, bí mật đưa Bạch Hoa lên thuyền chạy về Kẽm Trống. Bằng Cử hộ tống công chúa tới ngọn Bổ Đà nằm kề bên sông Đáy, để nàng ẩn tích trên một am chùa nhỏ thờ Phật, và đưa cho nàng một ít bạc vụn phòng khi cần dùng đến. Am chùa nhỏ này có tên là Diên Bình tự, đã bỏ hoang nhiều năm ngói xô rêu phủ, quanh năm chẳng có ai ghé qua. Bằng Cử để lại một chiếc thuyền con cho công chúa có phương tiện sang sông, tiện hỏi công chúa pháp danh là gì? Bạch Hoa đáp: Thu Thu. Bằng Cử dặn dò công chúa phải mai danh ẩn tích thật kín để không bị triều đình nhà Hồ tìm thấy và sát hại.
 Tương truyền, công chúa Bạch Hoa ở trên núi Bổ Đà, ăn cơm gạo đỏ, uống nước hạt bách hoa cúc. Đêm ngày, công chúa tụng kinh niệm Phật cầu cho mọi người chung sống yên vui trong cảnh thanh bình, gió thuận mưa hòa, mùa màng tươi tốt. Năm sau (1399), công chúa nhận một cô gái 6 tuổi, người Sơn Trà bên kia sông Đáy, tên là Nguyễn Thị Giáp làm đệ tử, đặt pháp danh là Tuệ Hoa. Công chúa Bạch Hoa thường xuyên chèo thuyền sang thăm bên hữu sông Đáy, vào rừng leo núi hái lá cây làm thuốc, chữa bệnh cho người nghèo khó, nên dần dần nhiều người qua lại thăm, về sau được dân cư sở tại thương mến. Ở núi Bổ Đà những lúc rỗi rãi, công chúa Bạch Hoa thường đến một ngọn núi không tên gần đó, ngắm nhìn phong cảnh trời nước mênh mang của Kẽm Trống, làm thơ vịnh cảnh. Đệ tử Tuệ Hoa hỏi thì công chúa nói: Ta ra đây nghỉ ngơi, viết tập “Cô ai trường hận”. Tuy công chúa chưa từng đọc “Cô ai trường hận” cho bất kỳ ai nghe, nhưng từ đó về sau, dân chúng gọi ngọn núi không tên này là núi Cô Ai.

chuatrinhtiet-2.gif
Cổng chùa Trinh Tiết dưới chân núi Trinh Sơn
 Một tối năm Giáp Tuất (1454) niên hiệu Diên Ninh thời nhà Lê, sư nữ Thu Thu lên chùa khua mõ tụng kinh xong thì gục xuống không dậy nữa, hôm đó là mùng 6 tháng 8. Đồ đệ Tuệ Hoa an táng theo di chúc của sư tại một chỗ đất bằng trên núi Cô Ai. Cùng năm đó, nhân dân sở tại gom tiền tạc tượng Thu Thu bằng đá, đặt thờ ở án hương, bên dưới tượng Phật. Sau khi tổ Thu Thu mất, dân chúng quanh vùng đổi tên núi Bổ Đà thành Trinh Sơn, và đặt tên cho ngôi chùa là Trinh Tiết, dân Thanh Liêm hay dân tứ xứ thường qua lại lễ bái cầu phúc. Những ngày kỵ Tổ, dân sở tại thường dâng cơm gạo đỏ và xôi gấc muối vừng để làm giỗ.
 Theo cuốn Ngọc phả, chúng tôi tìm về chùa Trinh Tiết. Từ thành phố Phủ Lý xuôi hướng Nam đi theo quốc lộ 1, khoảng 15km thấy bên đường có biển chỉ dẫn: Di tích chùa Trinh Tiết-Kẽm Trống. Rẽ phía phải chừng 0,5km, cả một vùng sông nước mênh mang, sơn thủy hữu tình bày ra trước mắt. Thuở xưa, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi đi qua chốn này đã cảm tác bài thơ Kẽm Trống bất hủ.
Ngày nay, danh thắng quốc gia Kẽm Trống thuộc địa phận xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) và xã Gia Thanh (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Sông Đáy khi chảy qua vùng này bỗng trong xanh lạ lùng, được những dãy núi kề sát hai bên tạo nên phong cảnh hữu tình, làm nao lòng các tao nhân mặc khách. Toàn cảnh danh thắng, phía tả sông có núi Rùa, núi Cổ Động, núi Động Xuyên, núi Trinh Tiết; phía bên hữu sông có núi Bài Thơ, dãy núi Bạt Gia. Nhưng tiếc thay, giờ đây hầu hết các núi nằm trong quần thể danh thắng đều bị thay đổi cảnh quan và biến dạng nghiêm trọng, hậu quả của việc khai thác đá. Núi Rùa thì đầu rùa đã bị cụt mất, dọc triền núi vẫn còn vết tích của những cuộc nổ mìn phá đá. Theo chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm vào cửa hang Luồn phía hướng ra sông Đáy thì cửa hang đã bị bịt. Suốt theo chiều dài hơn ba trăm mét của dãy núi Bạt Gia (dân trong vùng còn gọi là núi Kẽm Trống) lởm chởm, lô nhô những sườn núi bị đánh mìn tơi tả.

chuatrinhtiet-3.gif
Voi đá trước chùa Trinh Tiết

 May mắn thay, có hai ngọn núi do đứng tách khỏi khu vực trung tâm Kẽm Trống nên vẫn còn tương đối nguyên vẹn, cây cối phủ um tùm một màu xanh mướt. Người dân nơi đây cho biết hai ngọn này chính là núi Trinh Sơn và núi Cô Ai. Hai ngọn núi này nằm biệt lập với khu dân cư, nên quang cảnh rất hoang vắng. Mặc dù chân núi Trinh Sơn có cổng chùa, nhưng khi leo lên núi chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng vì cảnh quan rất u tịch. Trên đường lên, có nhiều miếu nhỏ. Khi lên tới nơi, gọi là chùa nhưng kỳ thực chỉ là ngôi am nhỏ vắng lặng, tọa lạc trên một mặt bằng khá phẳng chỉ rộng chừng 15m2. Chùa thấp nhỏ mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, hoành tròn, mái lợp ngói nam, kết cấu kiểu chữ Đinh. Vì chùa không có sư, cũng không có người trông coi, nên cửa đóng chặt. Nhìn qua khe chấn song cửa, thấy rõ giữa chùa có tòa chính tẩm tuy rất nhỏ nhưng bài trí 5 lớp tượng. Dưới cùng là tòa Cửu long, lớp thứ 2 là pho tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, lớp thứ 3 là pho tượng nữ giới tạc theo kiểu Phật A Di Đà, lớp thứ 4 là ba pho Tam thế, trên cùng là tượng Phật. Ban đầu, chúng tôi tưởng pho tượng bài trí ở lớp thứ 3 là Phật A Di Đà, nhưng khi xuống núi, được người dân sở tại cho biết đó chính là tượng Bạch Hoa công chúa (tức tổ Thu Thu), có niên đại thời Lê sơ, thế kỷ XV. Tượng Bạch Hoa công chúa được tạc bằng đá, theo kiểu Phật A Di Đà trong tư thế ngồi thiền như người thật, cao 1,2m, tay trái để ngửa, tay phải úp lên đầu gối.
 Kề bên phải chùa có ngôi miếu nhỏ, trong đặt pho tượng Sơn thần. Ngay sát phía dưới lối lên chùa, có tảng đá hình con voi quỳ giống y như thật, nhưng lại không có vẻ là do tạc đẽo tạo hình. Trên đường lên núi, có miếu nhỏ, trong đặt pho tượng tổ sư Thu Thu tạc từ đá Bạch Ngọc, mới được dân trong vùng đưa lên. Ngày nay, cả hai huyện Thanh Liêm và Gia Viễn, có 9 nơi thờ Bạch Hoa công chúa, nhưng ngày giỗ tổ Thu Thu, dân những nơi này đều tụ về chùa Trinh Tiết để tưởng niệm ngài.

Chùa Đọi Sơn (Hà Nam)

Bao đời nay, núi Đọi – sông Châu đã trở thành một biểu tượng tiêu biểu của Hà Nam, quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn đã đi vào tiềm thức  người dân nơi đây như một niềm tự hào về lịch sử văn hoá của mảnh đất quê hương.
 Chùa Đọi Sơn toạ lạc trên đỉnh núi Long Đọi, thuộc địa phận huyện Duy Tiên, cách thành phố Phủ Lý khoảng 8km. Chùa Long Đọi Sơn có tên chữ là Sùng Thiện Diên Linh, được xây dựng vào thời Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông ( khoảng năm 1121). Tương truyền, dưới thời Lý chùa mang tên là Long Đội Sơn, đến thời Hậu Lê đổi tên là Đọi Sơn. 

Cũng có rất nhiều cách lý giải về cái tên Đọi Sơn mà nhân dân quanh vùng truyền nhau như : do núi trông giống hình dạng cái bát úp ( “ bát ” trong tiếng cổ có nghĩa là Đọi : ăn không nên đọi, nói chẳng lên lời.). Núi Đọi nằm ở giữa xã, cao chừng khoảng 400m, chu vi khoảng chừng 2500m. Mặt bằng chùa rất rộng, lưng tựa vào núi Ðiệp với ba dòng sông uốn khúc bao quanh. Ngôi chùa đã được trùng tu nhiều lần, hiện nay chùa còn giữ được nhiều di vật quý như tượng Phật Di Lặc bằng đồng ở chính điện; 6 pho tượng Kim Cương bằng đá, cao 1,60m; bia đá Diên Linh (dựng năm 1121), cao 2,88m, rộng 1,40m và dày 0,29cm, đặt trên đế đá chạm rồng, hình chạm khắc và hoa văn trang trí trên bia mang đậm phong cách thời Lý; 4 pho tượng hình người có cánh cao 40cm, bề ngang 30cm.Quanh chân núi có 9 giếng nước tự nhiên mà dân gian gọi là chín mắt rồng. Từ trên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía, khung cảnh khoáng đạt, nên thơ, có cánh đồng lúa, bãi ngô, ruộng khoai mượt mà, tươi xanh, chân núi có dòng Châu Giang quanh co lượn khúc như dải lụa đào uốn quanh. Quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá tâm linh to lớn. Từ xa xưa tín ngưỡng dân gian đã coi Đọi Sơn là trái “ núi thiêng ”. Thuyết phong thủy nói rằng nơi đây đất phát nghiệp  bá vương: “ Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương, lưu truyền vạn đại.”  Xung quanh chân núi đã phát hiện nhiều mộ cuốn vòm kiểu Hán, đầu người chết quay đầu về núi. Trong quá trình khai quật mộ thuyền ở địa phận xã Yên Bắc các nhà khảo cổ đã phát hiện và chứng kiến nhiều ngôi mộ có đầu nhằm hướng Núi Đọi. Lần theo lịch sử, những di tích đầu tiên được phát hiện ở núi Đọi là khu mộ táng cổ có niên đại trước sau Công nguyên ở khu vực ven Đầm Vực, khu Ao Gấu và gò Con Lợn. Từ khu di chỉ đến chân núi chỉ khoảng 1km. Trong 11 ngôi mộ được tìm thấy có 3 ngôi mộ thuộc loại quan tài hình thuyền, hai ngôi mộ đất kè đá, bốn ngôi mộ dát giường. Các ngôi mộ đều quay đầu vào núi. Chính những phát hiện này càng làm cho vùng đất này mang một nét đẹp kì bí, lạ thường. Cho tới ngày nay, người dân vẫn thường qua lại nơi đây và mỗi dịp lễ, tết để cầu khấn, gửi gắm những nguyện vọng, mong ước của họ.

Chùa Đọi thời Lý xếp hạng là “ Đại danh lam ” kiêm hành cung, thời Pháp từng được liệt vào hạng các cổ tích danh thắng để bảo vệ. Nét đặc biệt nhất của quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn phải kể đến là ngôi chùa và cây tháp Sùng Thiện Diên Linh được vua Lý Nhân Tông xây dựng năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118), khởi công vào tháng 5 đến mùa thu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 ( 1121 ) thì được hoàn thành. Tháng 3 năm Nhâm Dần (1122 ) nhà vua mở hội khánh thành chùa tháp. Toàn bộ công trình kiến trúc quý báu đó đã bị quân xâm lược nhà Minh phá hủy. May mắn còn sót lại tấm bia Sùng Thiện Diên Linh và 6 pho tượng Kim Cương, tượng thần Kinaras. Ngôi chùa cũng đã từng trải qua rất nhiều lần tu bổ vào các triều Hậu Lê, Mạc, Nguyễn. Lần tu bổ lớn nhất là vào thời Nguyễn, quy mô chùa trên 100 gian lớn, nhỏ, thiết kế kiểu nội công ngoại quốc. 

Lễ hội chùa Đọi hàng năm mở từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 3 Âm lịch, chính hội vào ngày 21 là một lễ hội thu hút rất đông du khách gần xa đến tham dự và vãn cảnh. Hoạt động thu hút nhất của lễ hội là đám rước kiệu từ chân núi lên chùa nhằm tưởng niệm Lý Nhân Tông và bà Ỷ Lan – người có công xây dựng ngôi chùa. Ngoài ra còn có lễ dâng hương, tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn trời Phật. Lễ hội diễn ra nhiều trò chơi như : chơi cờ người, đấu vật, hát đối…
Đến năm 1992 chùa Đọi được bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc Gia. Quần thể di tích – danh thắng Đọi Sơn ngày càng khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và du lịch to lớn, khắc sâu thêm biểu tượng của quê hương núi Đọi sông Châu trên bản đồ Hà Nam.

Lễ hội Đền Lảnh Giang (Hà Nam)

Các màn diễn xướng hầu thánh với sự kết hợp giữa dân gian và đương đại cùng sự tham gia của các nghệ sĩ trình diễn âm nhạc diễn ra tại lễ hội đền Lảnh Giang từ ngày 23 
Đền Lảnh Giang còn gọi là đền Lảnh, tọa lạc bên con sông Hồng thơ mộng thuộc thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Hằng năm đền Lảnh Giang tổ chức hai kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 âm lịch và tháng 8 âm lịch. Đền còn là một địa chỉ du  lịch hấp dẫn của tỉnh Hà Nam. Các màn diễn xướng hầu thánh với sự kết hợp giữa dân gian và đương đại cùng sự tham gia của các nghệ sĩ trình diễn âm nhạc diễn ra tại lễ hội đền Lảnh Giang từ ngày 23 đến 26 tháng 7.

Đền Lảnh Giang thờ Tam vị Thủy thần đời Hùng Vương thứ 18 và thờ công chúa Tiên Dung, Chử Đồng Tử. Lễ hội đền Lảnh Giang từ bao đời nay vẫn đựợc tổ chức bằng các sinh hoạt dân gian như lễ cáo yết, lễ rước kiệu, trở thành tín ngưỡng  văn hóa ăn sâu vào đời sống tâm linh của người dân nơi đây.

Với chủ trương phục dựng lại các lễ hội xưa nhằm bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã phục dựng thành công nhiếu lễ hội như Lam Kinh, Kiếp Bạc. Nằm trong chuỗi dự án phục dựng đó, năm nay, lễ hội đền Lảnh Giang được Viện Văn hóa Nghệ thuật kết hợp với địa phương phục dựng và nâng cấp.
Trên cơ sở tài liệu các huyền tích do Sở Văn hóa Hà Nam cung cấp,  ý tưởng năm nay của Ban tổ chức là sự kết hợp giữa dân gian và đương đại vào trong một lễ hội truyền thống. Đây là một nét độc đáo khác biệt của lễ hội đền Lảnh Giang, mà theo ông TS Bùi Quang Thắng, tác giả kịch bản, điều đó sẽ làm nên những nét mới mẻ và sáng tạo của các lễ hội.
Nét độc đáo trong lễ hội đền Lảnh Giang năm nay là sự phục dựng lại các diễn xướng dân gian hầu thánh, tái hiện huyền tích các vị thánh đền Lảnh Giang. Đây là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng khá phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ mà theo TS Nguyễn Chí Bền, sắp tới rất có thể Viện Văn hóa dân gian sẽ nghiên cứu đưa vào danh sách đệ trình lên UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Lễ hội được tổ chức trong toàn bộ diện tích hồ trước đền Lảnh Giang và trong sân đền. Tại hồ phía ngoài phục dựng một sân khấu làm bàn thờ hai tầng trên mặt nước, phía sau là một màn hình lớn vừa làm phông vừa làm màn trình chiếu các hiệu ứng video về "Thủy phủ" của họa sĩ Phạm Văn Trường. Tầng trên là bàn thờ ba vị thánh, tiếp đến là một sân khấu nhỏ, nơi diễn ra các diễn xướng dân gian hầu thánh trong quá trình tổ chức diễn xướng tại hồ.
Huyền tích về các vị thánh đền Lảnh Giang được tái hiện trong ánh sáng và tiếng nhạc lúc kỳ ảo, lúc dồn dập, một bọc trứng lớn xuất hiện nở ra thành các chàng trai vạm vỡ, được vẽ bằng các hoa văn rắn rồng toàn thân (với sự hỗ trợ của 30 họa sĩ đương đại). Một màn hát múa hầu thánh ca ngợi công đức của các vị thánh diễn ra trong suốt sự hiện diện của 3 vị thánh...
Huyền tích được tái hiện trong sự kết hợp giữa âm nhạc của Vũ Nhật Tân, video-art của Phương Vũ Mạnh cùng màn trình diễn Perfomance - art do Phạm Văn Trường hướng dẫn cùng với 20 chàng trai diễn xướng. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, có sự hỗ trợ đắc lực của âm nhạc điện tử, ánh sáng laze và các kỹ xảo hiện đại khác.
Tuy nhiên, nhiều câu hỏi và thắc mắc cũng được đặt ra, một lễ hội mang đậm chất truyền thống như vậy, nếu đưa vào các yếu tố đương đại, loại nghệ thuật mới chỉ coi là những thử nghiệm của giới nghệ sĩ, còn xa lạ với công chúng, liệu có độ "vênh", và những người dân mộc mạc chất phác sẽ tiếp nhận nó như thế nào khi họ chính là những chủ nhân của lễ hội.
Lý giải điều này, đạo diễn Bùi Quang Thắng cho biết: Muốn mỗi lễ hội có bản sắc riêng của mình, mỗi thời đại phải có sự bổ sung, sáng tạo thêm. Việc đưa những yếu tố đương đại vào lễ hội truyền thống một cách nhuần nhuyễn sẽ tạo nên sức hấp dẫn riêng của lễ hội, đó chính là một cách làm mới, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể của ông cha

Đình Thổ Hà (Bắc Giang)

Đình Thổ Hà nằm giữa thôn Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đình chính thức được Bộ Văn hoá công nhận là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 29/VH – QĐ ký ngày 13/01/1964. Từ Hà Nội theo quốc lộ I tới thị xã Bắc Ninh qua nhà thờ thị xã, rẽ trái theo đường Vệ An, theo đê lên tới chợ Vạn qua đò là tới đình Thổ Hà.

Đình Thổ Hà gắn liền với vị Thành hoàng làng là Thái Thượng Lão Quân. Theo Thần tích của làng, ông là người phương Bắc, sống vào thời An Dương Vương, họ Lý, tên Đam (còn gọi là Lão Đam, Lão Tử). Ông có công giết giặc Xích Tỵ quỷ, có công mở trường, dạy học ở làng. Ông được Vua phong là Thượng đẳng thần và Thành hoàng Thái thượng, cho phép làng Thổ Hà lập miếu phụng thờ. Do vậy dân làng đã tôn ông lên làm Thành hoàng, phù trợ cho cuộc sống của dân làng bình an, hạnh phúc. 
Đình Thổ Hà là một trong số ít những ngôi đình có ghi niên đại rõ ràng trên thành phần kiến trúc. Theo các văn bia và trên một số cấu kiện của kiến trúc có ghi thì đình Thổ Hà được khởi dựng vào năm 1685.

* Đặc điểm kiến trúc:

Đình Thổ Hà hiện gồm ba nếp nhà là Tiền tế, Đại đình và Hậu cung. Tiền tế nằm song song với Đại đình, cách Đại đình một khoảng nhỏ. Đại đình nối với Hậu cung bằng một gian Ống muống tạo thành hình chữ Công.


Tiền tế làm theo kiểu bốn mái cong, lợp ngói mũi hài, bờ nóc và bờ dải gắn hộp hình hoa chanh. Tiền tế gồm 3 gian 2 chái. Bộ khung kết cấu bởi 4 hàng cột. Thân cột được làm nhỏ mảnh. Hai vì nóc gian giữa làm theo kiểu giá chiêng, hai vì nóc gian bên làm theo kiểu chồng rường. Vì nách gian giữa làm theo kiểu kẻ ngồi, dưới kẻ có bẩy đua ra đỡ mái hiên. Vì nách hai gian chái làm theo kiểu chồng rường.


Đại Đình gồm 5 gian 2 chái, thành phần chịu lực chính là bộ khung gỗ gồm 48 chiếc cột, trong đó có 8 cột cái, 16 cột quân, 24 cột hiên. Liên kết ngang của 3 gian giữa là 4 bộ vì. Vì nóc làm theo kiểu giá chiêng. Vì nách làm theo kiểu cốn chồng rường. Dọc theo lòng nhà có ba hàng xà kép: xà thượng, xà trung và xà hạ. Giữa các hàng xà được bưng ván gió. Để mở rộng lòng công trình các nghệ nhân thời xưa đã đặt hai bộ vì lửng ở hai gian bên. Trên xà đùi nối các cột cái và cột quân gian bên ở hai hồi người ta đặt cột trốn rồi gác bộ vì lên trên cột trốn. Vì này làm theo kiểu chồng rường. Các con rường được xếp chống lên nhau qua các đấu và được chạm trổ.

đình thổ hà
Nghệ thuật điêu khắc - Ảnh sưu tầm

Hậu cung gồm 3 gian kiến trúc khá đơn giản. Vì nóc làm theo kiểu giá chiêng, cấu tạo bộ vì giống với bộ vì của gian Tiền tế . Trên các cấu kiện của Hậu cung không có hình trang trí. Hậu cung làm theo kiểu “tường hồi bít đốc”, hai hồi đắp hình Hổ phù, bờ dải làm theo kiểu “long đình”. Đây là lối kiến trúc có niên đại muộn, phổ biến vào cuối thế kỷ XIX.

đình thổ hà
 Những hình ảnh tuyệt đẹp - Ảnh sưu tầm

Xem thêm: Các khách sạn giá tốt ở Bắc Giang

* Nghệ thuật trang trí:

Trong toàn bộ đình Thổ Hà xét dưới góc độ kiến trúc, nghệ thuật trang trí chỉ có toà Đại đình là đáng chú ý. Toà Tiền tế, Hậu cung và Ống muống được làm vào giai đoạn sau, khi tu bổ lại đình vào thế kỷ XVIII – XIX. Trong toà Đại đình, nghệ thuật trang trí điêu khắc thể hiện nét đặc sắc qua các chủ đề khá đa dạng với hình rồng, phượng, nghê, lân, các con thú, các hình hoa lá, mây, tiên nữ . . . Trang trí có đặc điểm chung là đường nét khoẻ, với những khối nổi cao, có độ tương phản giữa nổi và chìm do trình độ điêu luyện của kỹ thuật chạm lộng, bong kênh tài hoa, khéo léo của các nghệ nhân xưa và được chạm hầu hết ở các thành phần kiến trúc của đình như ở các cấu kiện: các Đấu kê, con Rường, Kẻ, đầu Dư, Ván nong, Câu đầu . . . Chẳng hạn trên các đầu Kẻ được trang trí hình rồng, mây, nghê và được chạm cả hai mặt, nối liền với ván nong. Rồng ở Kẻ hiên xuất hiện khá độc đáo với nửa thân mình như vừa chui từ cột ra. Đầu rồng vươn ra ngoài, ngửa mặt đỡ mái, một chân rồng đạp vào cột, một chân rồng đùa nghịch với các con thú khác. Râu rồng cùng với mây bay ngược về phía sau. Các mặt Kẻ chạm nghê cũng được điểm thêm các con thú nhỏ. Đặc biệt Kẻ đỡ đao ở góc mái đình phía Tây có chạm một con chim mỏ dài


Các vì Nóc cũng được chạm trổ khá tinh vi. Ở hai vì Nóc gian giữa các con Rường được chạm hình rồng, mây, nghê và hoa lá. Trong đó hình nghê được bố trí khá sinh động, nghê cúi khom lưng, một chân giơ lên gãi tai, đầu ngoảnh lại phía sau. Vì Nóc gian bên phải và gian bên trái trên Rường và Đấu đều chạm nổi hình hoa lá. Trên mặt Đấu chạm hình nghê ngồi chống hai chân trước. Các con Rường cũng được chạm hình nghê phục khom lưng đội Hoành. Hình nghê được chạm với nhiều tư thế khác nhau bằng những nét chạm khắc chắc khoẻ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Các cột Trốn thường được trang trí hình hoa, hình thú. Khoảng trống giữa hai cột Trốn được bịt kín bởi một tấm ván chạm rồng. Hình rồng ở đây khác với hình rồng trên Kẻ hiên. Rồng được chạm theo lối uốn lượn toàn thân nhưng đầu lại quay ra nhìn chính diện như kiểu Hổ phù. Có ván thay hình rồng bằng hình mặt trời với nhiều đao lửa xung quanh. Xà nách được chạm trổ rất công phu.

Ở hai xà nách của gian hồi phía tây, chiếc trong chạm hình rồng, chiếc ngoài chạm hình thú. Những mảng chạm khắc ở đây mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVI, với hình khối chắc, đường chạm tinh tế, chạm nổi không cao mà gần như trải dàn trên một mặt phẳng khác với các mảng chạm khắc hình rồng trên các cấu kiện khác mang phong cách thế kỷ XVII. Sự khác biệt giữa hai phong cách này thể hiện rõ nhất ở hình tượng rồng. Đặc điểm của rồng ở đây là đầu nhỏ, mặt dài, mắt tròn, lông mày xếp thành nếp, sợi râu mép mảnh mọc hai bên mép và chạy song song với thân, râu tóc thưa thớt để lộ ra những đoạn thân rồng. Thân rồng uốn khúc ít, độ uốn ở quãng giữa không đáng kể gây cảm giác như lưng rồng võng xuống. Đây là đặc trưng của rồng yên ngựa – rồng phổ biến của thế kỷ XVI.

đình thổ hà
Kiến trúc trong chùa - Ảnh sưu tầm

Hai xà nách ở gian hồi phía đông cũng được chạm lộng hình rồng, hình người, hình thú. Đây thực sự là những tác phẩm nghệ thuật. Xà trong ở giữa chạm hình một bông hoa nằm giữa hai chiếc lá. Phía ngoài chạm một con rồng vẩy đơn, đầu rồng quay ra phía chính diện, đỉnh đầu cài một bông hoa nhiều cánh đang nở. Rồng ở đây có đặc điểm tai to, rộng, cằm nhiều râu hình răng cưa, thân lẳn bị che bởi nhiều râu tóc và tua mây chỉ lộ ra một đoạn thân ngắn. Trước rồng có hình tiên nữ cưỡi phượng và tiên nữ cưỡi mây. Bên cạnh đó còn rất nhiều hình các con thú nhỏ bốn chân. Xà ngoài chạm lộng hình hai con rồng lớn chầu đầu rồng. Cạnh hai hình rồng còn bố trí thêm nhiều hình rồng con và tiên nữ. Các nét chạm khắc ở đây mang phong cách thế kỷ XVII.


Trên hệ thống Ván gió đình Thổ Hà được trang trí bằng nhiều đề tài khác nhau. Ván gió xà hạ chủ yếu chạm hình thú bốn chân, riêng ở gian bên phải kề gian giữa chạm hình hoa dây và một đoạn ở đầu hồi phía tây chạm hình hai người đàn ông ngồi. Hình thú được xếp thành từng đàn nối tiếp nhau, con đang chạy, con nằm, con ngồi, con đứng rất sinh động. Ván gió xà trung được trang trí hình hoa dây, xen kẽ với những cụm đấu ba chạc. Hoa dây được tỉa gọt chi li, mép lá đường gân mềm mại. Ở các con sơn đầu chạc có đấu vuông chạm hình rồng. Ván gió xà thượng chạm hình rồng chầu Mặt trời xen kẽ với hình phượng và tiên nữ. Các nét chạm khắc ở đây đều mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII.


Hình hoa lá và hình thú cũng có nhiều hình mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVI. Đó là những hình hoa trên cột Trốn của khung giá chiêng. Hoa có kích thước to, nét chạm tinh tế, đều đặn chạy thẳng từ nhuỵ ra đầu cánh. Hình thú ở đây cũng khác so với hình thú ở các Ván gió, với các đặc điểm vóc dáng mảnh, dẹt, hai chân trước gập thấp, hai chân sau đứng cao, lưng võng xuống, tư thế chồm về phía trước. Cùng với những yếu tố nghệ thuật trên thì đình Thổ Hà có nhiều nét giá trị về mặt lịch sử.


đình thổ hà
Nghệ thuật tuyệt vời - Ảnh sưu tầm

Tại đình Thổ Hà ngoài những trang trí trên bộ phận kiến trúc còn có những tác phẩm điêu khắc khác. Đó là bộ cửa võng ở gian giữa phía trước cung thờ. Bộ cửa võng làm vào năm Chính Hòa thứ 13 (1692) được sơn son thếp vàng, đục chạm rất công phu. Phần chính của cửa võng là 3 khám thờ. Khám thờ làm theo kiểu 8 lớp lồng vào nhau, mặt ngoài có khung gờ chạm cánh sen và 6 cột nhỏ chạm rồng. Xen kẽ giữa các khám là 4 bức đố chạm tứ quý. Những trang trí trên bộ cửa võng chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XVII) nhưng cũng có một số bộ phận mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn như các bức đố, bức hoành.

Với nghệ thuật kiến trúc mang đậm phong cách kiến trúc thế kỷ XVI, sự quy mô, bề thế của công trình cũng thể hiện trình độ xây dựng đình khá cao của những người thợ thời xưa đem lại giá trị kiến trúc độc đáo. Đồng thời những trang trí điêu khắc ở đình Thổ Hà thực sự là những tác phẩm nghệ thuật. Những trang trí này mang hai phong cách khác biệt nhau được thể hiện trên các cấu kiện của đình làng. Với bố cục tuân thủ theo quy luật truyền thống – quy luật về tính đăng đối. Tuy nhiên các nét chạm khắc lại được thể hiện một cách khéo léo, đường nét đẹp, sinh động hơn hẳn giai đoạn trước. Cùng với bố cục kỹ thuật chạm khắc cũng góp phần không nhỏ vào thành công của nghệ thuật trang trí đình Thổ Hà. Đây thực sự được coi là đỉnh cao của nghệ thuật trang trí đình làng thế kỷ XVII.

đình thổ hà
Đình Thổ Hà - Ảnh sưu tầm

Trải qua thời gian khắc nghiệt cùng với những biến động của lịch sử, đình Thổ Hà đã bị hư hỏng ở nhiều cấu kiện vì thế trong quá trình tồn tại đình đã được tu sửa nhiều lần vào các năm 1961 và 1979. Đồng thời, do nằm ở vị trí vùng trũng nên mùa mưa hàng năm ngôi đình thường xuyên ở trong tình trạng ngập lụt.


Do vậy có ảnh hưởng không nhỏ tới các thành phần của công trình đặc biệt là nền, các cấu kiện gỗ, các cột hầu hết đều bị mất chân, mái ngói bị xô dạt. Vì vậy rất cần có sự tu bổ kịp thời để có thể lưu giữ được những nét giá trị kiến trúc nghệ thuật của ngôi đình, cho chúng ta một hình ảnh trọn vẹn của một ngôi đình tiêu biểu của thế kỷ XVII

Một số thông tin về đình Thổ Hà:
- Đình Thổ Hà thuộc thôn Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đình Thổ Hà gắn liền với vị Thành hoàng làng là Thái Thượng Lão Quân
- Đình Thổ Hà được khởi dựng vào năm 1685.
- Đình được Bộ Văn hoá công nhận là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 29/VH – QĐ ký ngày 13/01/1964


đình thổ hà
Lễ hội thu hút người dân - Ảnh sưu tầm

Xem thêm: Các tour giá tốt ở Bắc Giang

Đình Thổ Hà thuộc làng Thổ Hà là ngôi đình cổ được dựng vào đời Lê Hy Tông trên khu đất rộng 3.000m2 có nhiều cây cổ thụ xung quanh. Hội làng gốm Thổ Hà tổ chức hàng năm gồm có lễ rước, tế lễ, hát văn ban ngày, diễn tuồng ban đêm… trong một không khí lễ hội thực sự của những người nông dân chân chất. Hội làng gốm Thổ Hà suy tôn ông tổ nghề Đào Trí Tiến, người có công đưa nghề gốm về làng. Năm nay, hội làng càng được tổ chức đặc sắc hơn bởi đình mới xây dựng, trùng tu lại.

Đình Thổ Hà
Cổng vào làng Thổ Hà - Ảnh sưu tầm
 
Đình được dựng theo kiểu chữ công, toà bái đường dài 27m, rộng 16m, dựng trên nền cao 0,5m xung quanh bó đá tảng xanh chia làm ba cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút. Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng, chạm rồng, mây, nghê, thú rất trau chuốt. Bái đường chia làm 7 gian, 48 cột lim, bộ khung mái chạm trổ tinh vi, nhiều cảnh trí sinh động.
 
Đặc biệt có khá nhiều hình thiếu nữ mặc váy dài, yếm, tóc búi hoặc chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, đè rồng, hoặc đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh. Lòng bái đường lát đá xanh nhẵn bóng. Bức cửa võng thếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm cho bái đường càng thêm trang nghiêm cổ kính. Theo tấm bia cổ để lại, đình Thổ Hà là kết quả công sức đóng góp của toàn thể dân làng Thổ Hà. Ngôi đình là công trình thể hiện niềm tự hào của các thế hệ người dân Thổ Hà.

Thành Cổ Xương Giang (Bắc Giang)

Thành cổ Xương Giang nằm ở xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Đây là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ 15. Bắc Giang là một miền đất cổ, có truyền thống lịch sử gắn bó cùng với cả nước trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Thành cổ Xương Giang nằm ở xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xương Giang là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ XV (1407). Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông - Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc - Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.
Khảo sát thực tế và hồ sơ di tích thì dấu tích ngôi thành cổ xưa nay còn lại không nhiều, tường thành cao hơn mặt ruộng khoảng 3- 4m, chân rộng 25m, mặt rộng từ 16- 20m, 04 góc có 4 pháo đài cao hơn mặt thành 4m nhô hẳn ra ngoài, ngoài thành là hệ thống hào bao bọc.
Trong đợt khai quật lần đầu năm 2008, các nhà khảo cổ học Viện Khảo cổ học đã phác hoạ bước đầu về hệ thống các công trình kiến trúc của thành cổ Xương Giang.
Theo sử sách, chiến thắng Xương Giang của quân và dân Đại Việt do Lê Lợi lãnh đạo, đập tan 10 vạn quân xâm lược Minh trong gần 1 tháng tại địa bàn Lạng Sơn và Bắc Giang ngày nay. Với bốn trận thắng lớn: trận ngày 10/10 đập tan quân tiên phong và chém chết Thái tử Liễu Thăng tại cửa ải Chi Lăng; Trận ngày 15/10 đánh tan quân giặc tại Cần Trạm (Hương Sơn- Lạng Giang), buộc tướng giặc Bảo Định Bá Lương Minh phải tự vẫn; trận Hố Cát ngày 18/10 (thuộc Vôi, Xương Lâm, Phi Mô- Lạng Giang), làm cho viên Thượng thư Lý Khánh phải tự tử và trận Xương Giang ngày 3/11/1427 diễn ra trên cánh đồng Xương Giang (thuộc các xã Tân Dĩnh, Xuân Hương, Mỹ Thái huyện Lạng Giang và Thọ Xương, thành phố Bắc Giang) sau 10 ngày vây hãm, nghĩa quân đã đánh tan hơn bảy vạn quân giặc do Thôi Tụ và Hoàng Phúc chỉ huy, buộc quân Minh ở Đông Đô (Hà Nội) phải xin hàng rút về nước.
 Bia ghi dấu tích cửa Bắc của thành Xương Giang
Bia ghi dấu tích cửa Bắc của thành Xương Giang

Chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn – Lê Lợi do tướng Trần Nguyên Hãn chỉ huy, chiếm thành Xương Giang và phá tan đạo quân của Liễu Thăng, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng lịch sử, lật đổ ách thống trị bạo tàn của nhà Minh kéo dài 20 năm và là chiến thắng quyết định cho nền độc lập của dân tộc ta ở thế kỷ thứ XV.
Trận công thành của nghĩa quân Lam Sơn ngày 28/9/1427 và trận diệt viện oanh liệt ngày 3/11/1427 mà Lê Quý Đôn đánh giá: Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nước Nam thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy (theo Đại Việt thông sử).
Thành Xương Giang được coi như trung tâm của chiến trận và sau đó còn chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng của quê hương đất nước, nhất là cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) xảy ra vào nửa sau thế kỷ 18.
Thành cổ Xương Giang
Thành cổ Xương Giang
Để kỷ niệm lịch sử chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn tại thành Xương Giang, hàng năm tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ hội vào ngày 6-7 tháng Giêng. Trong lễ hội có nhiều nghi lễ và trò vui đặc sắc. Trước ngày khai hội, tối mồng 5 tháng Giêng, thanh niên tổ chức đốt lửa trại. Tại các đình, chùa, đền, miếu và nhà văn hoá đèn đuốc suốt đêm để tới canh năm hôm sau tề chỉnh săp hàng ngũ, chiêng trống kéo về nơi khai hội. Sáng sớm ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch, các đoàn người từ các phường xã, giương cờ, gióng trống, xe kiệu với quần áo rực rỡ, tề chỉnh từ các ngả đường lần lượt tiến về trung tâm khai hội…
Với ý nghĩa lịch sử đó, ngày 22-01-2009, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 293/QĐ-BVHTT-DL xếp hạng thành Xương Giang là di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang cấp Quốc gia. Tại đây có 14 điểm di tích là: Cửa đông bắc, cửa đông, cửa bắc, cửa tây nam, cửa nam, khu trung tâm, dấu vết thành, đoạn sông Xương Giang chảy qua thành; địa điểm khai quật khảo cổ học số 2, 3, giếng Phủ, đền Thành và 2 điểm ngoài khu bảo vệ là: cửa đông nam, cửa tây. Các điểm di tích được bảo vệ nằm rải rác ở các vị trí xen kẽ là khu dân cư các thôn Đông Giang, Nam Giang, Trại Bắc thuộc xã Xương Giang. Ngoài ra còn có một phần diện tích Trường Trung cấp Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Giang...
Sơ đồ trận bao vây tiêu diệt quân tiếp viện của địch tại thành Xương Giang
Sơ đồ trận bao vây tiêu diệt quân tiếp viện của địch tại thành Xương Giang
Với những giá trị đã được thừa nhận trong lịch sử, sự đồng thuận của các cấp, các ngành và nhân dân, di tích lịch sử địa điểm chiến thắng Xương Giang mãi là niềm tự hào của nhân dân Bắc Giang nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung trong lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm của đất nước./.

Bài đăng phổ biến