Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong Tục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong Tục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Chợ tình Xuân Dương ( Bắc Kạn)


Không nổi tiếng như chợ tình Khâu Vai ở Hà Giang hay chợ tình SaPa ở Lào Cai nhưng chợ tình Xuân Dương ở Bắc Kạn lại có nhiều nét riêng độc đáo. Chợ được họp mỗi năm một lần vào ngày 25/3 âm lịch, người đi chợ tình tìm đến đây để nhớ lại những kỷ niệm xưa, tìm lại hình bóng người con gái, con trai mà họ từng yêu thương xem họ sống có hạnh phúc không.

Tìm lại hình bóng người xưa 

Chợ tình Xuân Dương được họp trên một bãi đất rộng ở trung tâm xã Xuân Dương, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, là chợ tình của đồng bào Tày, Nùng sinh sống tại các huyện miền núi cao của các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên.

Ngay từ sáng sớm, các đôi trai gái mặc những bộ trang phục đẹp nhất của dân tộc mình dắt tay nhau xuống chợ, dòng người đổ về chợ mỗi lúc một đông làm cho không khí trở nên nhộn nhịp hẳn. Chợ họp không có người mua, kẻ bán. Những người đến đây chỉ để tìm lại bóng dáng người xưa, ôn lại những kỷ niệm cũ hay tìm cho mình một người bạn tâm giao.



Theo những người cao tuổi trong làng kể lại, ngày xưa, tại vùng đất họp chợ bây giờ, có đôi vợ chồng nghèo nhất mực thương yêu nhau, họ sống rất hạnh phúc.

Một ngày nọ, hai vợ chồng cùng đi làm đồng, chồng cuốc nơi cuối ruộng, vợ phát cỏ nơi đầu ruộng. Một viên quan đi qua thấy người phụ nữ xinh đẹp đã cho quân bắt nàng mang đi. Người vợ chống cự, kêu cứu thảm thiết nhưng do thửa ruộng quá dài, người chồng không nghe thấy. Khi hay tin vợ mình bị viên quan bắt đi, người chồng rất đau khổ nhưng không làm sao được.

Nhiều năm sau, người vợ tìm về gặp lại chồng cũ. Lúc ấy, mỗi người đã có một gia đình riêng của mình, không thể tính đến chuyện hàn gắn, họ chỉ còn biết ôm nhau mà khóc. Biết chuyện, dân làng ai cũng tỏ lòng thương. Cảm động trước tình cảm của những người yêu nhau nhưng không đến được với nhau nên mọi người đồng ý để hai vợ chồng cũ có một ngày ôn lại chuyện xưa và chọn thửa ruộng dài (Nà Rì) của vợ chồng nhà nọ làm nơi tụ họp, đó là ngày 25-3 (âm lịch). Ruộng dài (Nà Rì) cũng là tên của cả huyện Na Rì (Bắc Kạn) ngày nay.



Anh Trương Văn Bản, dân tộc Tày, xã Liêm Thủy, huyện Na Rì chia sẻ: Mình và cô ấy đều đã có gia đình rồi. Mình muốn gặp lại bạn cũ để xem cô ấy sống có vui, có hạnh phúc như mình không thôi. Nếu cô ấy cũng vui, cũng hạnh phúc như mình thì mình cũng vui mà.

Còn bà Triệu Thị May, dân tộc Nùng, xã Xuân Dương nay đã gần 70 tuổi cho biết, năm nào bà cũng đến chợ tình, vừa để nhớ lại thời tuổi trẻ bà cũng từng có mối tình đẹp ở đây, nhưng hai người do duyên số không đến được với nhau, vừa để xem chợ tình có sự thay đổi ra sao so với trước đây.

Nét văn hóa trong cộng đồng người Tày, Nùng



Chợ tình Xuân Dương đã xuất hiện trong cộng đồng người Tày, Nùng ở Xuân Dương (Na Rì) từ bao đời nay và nó đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc nơi đây. Cứ vào dịp 25/3 (âm lịch) hằng năm, không chỉ là nam thanh nữ tú từ khắp các bản làng trong huyện mà bà con vùng lân cận của Lạng Sơn, Thái Nguyên... cũng tưng bừng về dự hội.

Trước ngày phiên chợ tình họp, ai cũng mong mỏi để được đến với chợ tình, những đôi trai gái lựa chọn cho mình những bộ trang phục dân tộc đẹp nhất để được chú ý, được mời hát giao lưu. Chợ tình là nơi hẹn hò của biết bao đôi trai gái đang yêu, là nơi hẹn gặp lại của những cặp tình nhân trước đây vì lý do nào đó họ không lấy được nhau nay hẹn gặp để chia sẻ, cảm thông cho nhau. Chợ tình còn là nơi giao lưu văn hóa giữa cộng đồng các dân tộc, giúp họ gắn kết với nhau hơn.



Đến với chợ tình Xuân Dương, khách thập phương sẽ được thưởng thức các làn điệu then, sli, lượn, đàn tính trữ tình ngọt ngào, đặc sắc và được thưởng thức văn hóa ẩm thực của người Tày, Nùng với các món ăn lạ mắt mà đậm hương vị của núi rừng Xuân Dương như: thắng cố, mèn mén, thịt treo, bánh trứng kiến, bánh khảo, bánh lá ngải... Đặc biệt, du khách sẽ được tham gia những trò chơi dân gian như: đẩy gậy, kéo co, rày cỏ, đánh cù , tung còn, đi cà kheo... Những nét văn hóa này đã và đang góp phần tạo nên một không gian văn hóa muôn màu sắc đậm đà bản sắc dân tộc Tày, Nùng nơi đây.

Ông Đàm Đình Trưởng, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Na Rì cho biết: Chợ tình Xuân Dương là nét văn hóa độc đáo của bà con dân tộc nơi đây, tuy nhiên do ảnh hưởng của văn hóa hiện đại, nhiều nội dung của chợ tình đã bị mai một. Chúng tôi đang cố gắng khôi phục và gìn giữ những nét đẹp văn hóa vốn có của chợ tình để không bị trộn lẫn, biến tướng. Chợ tình còn là nơi để các thế hệ trước truyền lại, giáo dục truyền thống của dân tộc mình cho thế hệ sau, giúp họ giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.



Anh Hoàng Đình Quân, du khách đến từ Thái Nguyên cho biết: Chợ tình Xuân Dương có nhiều nét độc đáo, hấp dẫn, năm nào gia đình tôi cũng rủ nhau đi chợ tình. Đến đây được thưởng thức các món ăn dân tộc, thưởng thức văn hóa bản địa như được hòa quyện với thiên nhiên núi rừng nơi đây.

Chiều tà, trên các ngả đường về, bên đồi sim, từng đôi trai gái lưu luyến chia tay nhau bằng những điệu then, câu hát giao duyên, sli, lượn. Họ uống với nhau những chén rượu ngô men lá thơm nồng để hẹn gặp nhau ở phiên chợ sau. Cảnh vật, con người như muốn níu chân du khách, làm cho họ không nỡ rời xa nơi đây.

Du lịch, GO! - Theo Báo Tin Tức + ảnh internet

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

Cách cắm Hoa Đào tết hợp phong thủy

Cách cắm đào TếtVới mỗi gia đình miền Bắc, màu hồng phai hay thắm của những cành đào không bao giờ thiếu mỗi khi Tết đến Xuân về. Nhưng cách cắm hoa, chăm hoa và cả hướng đặt bình nếu như làm theo đúng phong thủy, bạn đã mang cát lợi cho cả 365 ngày.
 
Hôm nay, mình sưu tầm được một số cách cắm và chăm sóc hoa theo phong thủy xin được giới thiệu với các bạn với mong muốn chúng ta trước tiên sẽ có một bình hòa đẹp trog ngày tết, thứ 2 là một chút tâm linh mang lại may mắn cho bạn gia đình trong năm mới... :)!

Hướng bình đào theo con giáp
- Nếu là năm Tý, Thìn, Thân nên đặt bình đào theo hướng Tây
- Nếu là năm Ngọ, Tuất, Dần nên đặt bình đào theo hướng Đông
- Nếu là năm Dậu, Sửu, Tỵ nên đặt bình đào theo hướng Nam
- Nếu là năm Mão, Mùi, Hợi, nên đặt bình đào theo hướng Bắc.

Mai vàng ngày tết
Mẹo chăm sóc đào theo phong thủy:
- Nên cho nước vào bình đào vừa phải, đừng để ít hay nhiều quá. Và cần nhớ thay nước cho đào để hoa luôn tươi. Màu sắc và độ bền của hoa đào cũng ảnh hưởng nhiều đến hòa khí, tình yêu, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là vợ chồng.
- Hạn chế dùng hoa đào giả làm bằng giấy, nhựa, thủy tinh.
- Cần phải vứt hoa đi trước khi hoa héo ngay trong chính nhà bạn vào đầu năm mới. Trong phong thủy, nếu đầu năm mà chứng kiến hoa héo, trong nhà có sự chia cách hoặc tranh chấp.
- Màu sắc của bình cắm đào cũng nên theo phong thủy. Nếu đặt bình về hướng Bắc nên chọn màu xanh da trời, màu đen; Nếu đặt bình về hướng Đông Nam hay Đông nên chọn bình màu xanh ngọc, xanh lá cây; Nếu đặt bình phía Nam nên chọn bình màu đỏ hoặc tím; Nếu đặt bình hướng Tây, Tây Bắc nên chọn bình màu vàng hoặc trắng; Tây Nam và Đông Bắc nên sử dụng bình màu vàng nâu.

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

Phong tục tết của người Mông ở Kì Sơn- Nghệ An

Lên Kỳ Sơn vào dịp cuối năm này, tôi dành nhiều thời gian tìm  hiểu phong tục Tết của người Mông ở Kỳ Sơn và đã có hai ngày đêm về các bản Trường Sơn, Tiền Tiêu (xã Nậm Cắn), bản Sơn Hà (xã Tà Cạ) là những bản thuần dân tộc Mông.

Theo các già bản cho biết, nay bà con đã tự nguyện đón Tết cổ truyền dân tộc trùng với Tết Nguyên đán như người Kinh. Trước đây, Tết của người Mông cũng theo lịch thời vụ của nhà nông, theo các tuần trăng như Âm lịch, có khác là người Mông không tính theo năm nhuận nên thời gian có xê dịch trong khoảng 1 tháng. Nay chuyển thời gian theo Tết Nguyên đán có thuận lợi là việc học tập, công tác của con em không bị ảnh hưởng mà phong tục Tết vẫn được bảo tồn.




Trang phục dân tộc của thiếu nữ Mông. Ảnh: P.V
Trong phong tục Tết của người Mông, các gia đình dùng ngọn tre quét trong nhà để xua hết mọi điều không may. Trong 3 ngày Tết không ai được quét nhà. Sau lễ này còn có lễ Hạp Kỳ (gọi vía) cho người già cũng rất quan trọng, giống như lễ mừng thọ ở miền xuôi. Đây là một phong tục đẹp, như là dịp con cháu tỏ lòng hiếu thảo, tạ ơn các đấng sinh thành nhân dịp năm mới. Trong lễ gọi vía bắt buộc phải có một đôi gà có cả trống cả mái, một con lợn, sau lễ giết thịt gà trống bày lên cỗ cúng tết, còn để xem chân, đầu gà… để biết những điều may mắn hoặc không may trong năm mới. Qua tìm hiểu được biết, lễ tạ ơn (gọi vía) này đều có ở các dân tộc khác như Thái, Khơ mú… Nhưng khác với dân tộc Mông, lễ gọi vía của đồng bào dân tộc Khơ mú, Thái phải có thêm đĩa xôi, 2 vò rượu cần, những gia đình có điều kiện còn thêm bạc nén, vòng cổ, vòng tay, quần áo mới…, cuối lễ còn có tục buộc chỉ cổ tay.

Theo ông Hờ Chống Nhìa, Chủ tịch xã Nậm Cắn, trong những ngày Tết cổ truyền, các bản người Mông có nhiều trò chơi như ném pao (gần giống như ném còn của người Thái) chỉ khác là quả còn hình tròn, còn quả pao hình vuông. Trong hội thi ném pao, hai bên có cá cược bằng chính vật dụng trên người như vòng tay, vòng cổ, khăn, thậm chí cả quần áo. Sau hội, cả hai bên đều rất vui nhộn, thân mật với nhau. Ngoài hội ném pao còn có thi đẩy gậy, đi cà kheo, đánh cầu lông…, Riêng trò chơi đánh cầu lông mà quả cầu tự chế khá nặng, bên thua phải mang một bó củi sau lưng (nặng khoảng 10 kg), nếu thắng lại đổi cho bên thua phải mang trong thi đấu. Nay trò chơi này đã vắng bóng bởi đã có chơi cầu lông thông thường khá phổ biến.

Trong dịp Tết, người Mông cũng thường mời nhau đến nhà và đi thăm, chúc tết các gia đình thông gia, bạn bè. Trai gái thì tổ chức hội Gầu Tào để cùng hát giao duyên, tỏ tình bằng các làn điệu Cự Xưa, Lù Tẩu… cùng thổi khèn mời bạn xa đến. Nhiều đôi trai gái nên vợ chồng nhờ hội Gầu Tào này. Do ngày nay trai gái có dịp giao lưu nhiều hơn, các hủ tục như thách cưới giảm nhiều nên tục “cướp vợ” ở người Mông Kỳ Sơn cũng không còn nữa. Cùng với xu hướng đó, việc trai gái Mông mặc trang phục dân tộc trong các dịp lễ, tết cũng vắng dần. Lên miền Tây vào dịp lễ, tết khó gặp được thanh niên nam nữ các dân tộc ăn mặc theo phong tục truyền thống. Đây cũng là điều đáng buồn cần được ngành Văn hóa quan tâm.

Phong tục tết của người Nùng

Ngày đầu xuân người Nùng ở Tân Nguyên thường chọn ngày đẹp để lên đồi, xuống ruộng lao động sản xuất trong khí thế của mùa xuân mới tràn đầy niềm tin và hy vọng năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, thóc lúa đầy nhà, lợn đầy chuồng, mọi người mạnh khoẻ, bình an vô sự.




Chuẩn bị mâm cơm cúng chiều 30 tết.
Già làng Vi Đức Minh, thôn Đèo Thao, xã Tân Nguyên (Yên Bình) cho biết: Tết nguyên đán của đồng bào dân tộc Nùng chuẩn bị rất đầy đủ, chu đáo. Sau một năm trời làm việc vất vả, đây là dịp mọi người nghỉ ngơi, vui chơi, thăm hỏi và chúc tụng nhau những điều tốt lành. Các gia đình tụ họp bên bếp lửa hồng, cùng nhau chuyện trò bàn bạc và đánh giá thành quả của gia đình trong năm qua và bàn cách làm ăn trong năm tới.
Phong tục ăn tết của người dân tộc Nùng gần giống như người kinh. Người Nùng không làm lễ tiễn ông Công, ông Táo lên trời vào ngày 23 tháng chạp như người Kinh nhưng không vì thế mà người Nùng sửa soạn ngày tết kém rôm rả. Từ ngày 28 và 29 tháng Chạp, các gia đình rộn ràng làm các loại bánh để chuẩn bị cho những ngày tết. Ngày 30 tết là ngày quan trọng và đặc biệt nhất trong năm nên từ sáng sớm việc vệ sinh nhà cửa và đồ dùng trong nhà được mọi thành viên trong gia đình thực hiện rất khẩn trương.
Buổi chiều 30 tết, các thành viên trong gia đình đều tất bật chuẩn bị cho mâm cơm cúng tổ tiên và bữa cơm tất niên. Một thứ không thể thiếu trong mâm lễ cúng của người Nùng là món thịt gà sống thiến. Gà sống thiến thể hiện sự ấm no, sung túc của đồng bào dân tộc Nùng. Con gà này phải nuôi riêng từ trước tết vài tháng và cho ăn toàn bằng thóc. Các món khác không thể thiếu mà các gia đình tự làm là bánh chè lam, bánh lẳng, cơm lam. Bánh lẳng là món ăn được nhiều người ưa thích được làm cầu kỳ, trong suốt như mật ong, khi ăn được chấm với mật, mật được đun từ đường phên hoặc mật ong.
Tối 30, mọi gia đình tập trung làm cơm lam, bánh chè lam; thanh niên đến chơi tập trung ở một số nhà, sau đó đến khuya thì về nhà đón giao thừa. Đúng giao thừa, mọi nhà đều thắp hương và mở cửa để lộc vào nhà. Tùy theo từng dòng họ mà cách bài trí bàn thờ tổ tiên trong ngày tết cũng khác nhau nhưng nhìn chung là có gà, bánh chưng, mâm ngũ quả, bánh kẹo các loại và cây kim ngân làm bằng giấy màu vàng có hoa và hai cây mía thẳng và đẹp buộc đứng hai bên bàn thờ.
Sáng mùng một tết các gia đình dạy sớm làm mâm cơm cúng tổ tiên, mời tổ tiên ăn cỗ mừng năm mới và xin tổ tiên phù hộ cho con cháu, cho dòng tộc được hưởng mọi sự tốt lành. Người Nùng có tục mừng tiền cho các thành viên trong gia đình và cho trẻ con các nhà hàng xóm, bạn bè.
Trong những ngày tết, mỗi nhà thay phiên nhau làm cỗ, tụ họp anh em, gia đình, uống rượu và chúc nhau một năm dồi dào sức khỏe, gia đình hạnh phúc, làm ăn phát đạt. Thông thường đồng bào dân tộc Nùng tổ chức hoá vàng vào ngày mùng 2 tết. Các gia đình từ 3 - 4 giờ sáng đã đi lấy nước để đun pha trà và làm cơm cúng sớm để cầu nhiều điều may mắn sẽ đến trong năm mới.
Ngày đầu xuân người Nùng ở Tân Nguyên thường chọn ngày đẹp để lên đồi, xuống ruộng lao động sản xuất trong khí thế của mùa xuân mới tràn đầy niềm tin và hy vọng năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, thóc lúa đầy nhà, lợn đầy chuồng, mọi người mạnh khoẻ, bình an vô sự.

Phong tục tết Thanh Minh của người Sán Dìu

Tháng ba, tiết trời dịu nhẹ pha cái rét hanh hao như muốn nhắc trời còn xuân. Tháng ba cũng là tháng diễn ra nhiều ngày lễ truyền thống của Việt Nam: Tiệc mùng ba tháng ba thơm mùi bánh trôi “bảy nổi, ba chìm”, rồi ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba gợi nhắc con người nhớ về quê cha đất Tổ; và không thể quên ngày Tết Thanh minh mà đại thi hào Nguyễn Du đã viết:

“Thanh minh trong tiết tháng Ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”




Cụ Nguyễn Thị Sinh làm bánh cúng tổ tiên trong ngày thanh minh. Ảnh Trang Linh


Ngày Tết Thanh minh người Việt thường đi tạ mộ (tảo mộ) để tưởng niệm hương hồn người đã khuất và sửa sang phần mộ vốn được coi là “nhà cửa” của tổ tiên và người thân. Việc chăm sóc, cúng bái nơi phần mộ thể hiện nét văn hóa tâm linh, phong tục tập quán của từng dân tộc. Nếu người Kinh ở một số nơi thường đi tảo mộ vào dịp cuối tháng Chạp với ý nghĩa mời ông bà, tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu; thì người Sán Dìu lại đi tảo mộ vào đúng dịp thanh minh ghi trong lịch âm để mong tổ tiên phù hộ cho con cháu sáng tỏa. thông minh như ý nghĩa của hai từ “Thanh minh”. Tùy vào từng năm, ngày Tết Thanh minh sẽ xê dịch khác nhau, nhưng thường rơi vào tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch. Đồng bào Sán Dìu rất coi trọng ngày Tết Thanh minh và tổ chức khá linh đình với nghi lễ mang bản sắc rất riêng. 

Chúng tôi tìm về thôn Bảo Phát, xã Hợp Châu (Tam Đảo) - nơi đa số là người dân tộc Sán Dìu sinh sống để tìm hiểu bản sắc riêng ấy trong ngày Tết Thanh minh. Cụ Lưu Đình Phong, một cao niên người Sán Dìu trong thôn đã kể cho chúng tôi nghe về ngày lễ của đồng bào mình với niềm tự hào và thành kính. Theo lời cụ, người Sán Dìu Tam Đảo có phong tục “nhất táng thiên thu” (người chết chỉ chôn một lần, không cải táng như phong tục của người Kinh), do vậy, việc chăm sóc “nhà cửa” của tổ tiên, ông bà, cha mẹ hàng năm rất được coi trọng. Dịp thanh minh hàng năm sẽ có một ngày chính (năm nay là ngày 14-3 âm lịch), trước hoặc sau 3 ngày (lấy ngày chính hội làm mốc), người Sán Dìu sẽ tụ họp con cháu đi tảo mộ. Trước ngày đi tảo mộ, người nhà đi kiếm lá lau xau trên rừng, chém nhỏ mang ngâm lấy nước, bỏ bã. Lấy một con dao cùn, nung đỏ rồi nhúng vào nước ngâm lá lau xau. Vo gạo nếp, để khô rồi ngâm gạo vào nước lá lau xau đã đun sôi. Sau đó lấy gạo đó mang đồ xôi. Xôi sẽ có màu đen, gọi là xôi đen. Nhưng ngày nay, lá lau xau rất khó kiếm nên người Sán Dìu đã thay bằng xôi đỗ. Có gia đình thì kỳ công lên rừng kiếm trứng kiến về thổi xôi trứng kiến để cúng tổ tiên với ngụ ý là mong muốn được con đàn cháu đống.

Mộ của người Sán Dìu thường không tập trung, có những mộ ở rất xa nên việc tảo mộ có thể mất cả ngày, thậm chí 2 ngày mới xong. Đến mỗi ngôi mộ, người Sán Dìu sẽ dọn sạch cỏ dại, đắp lại đất cho gọn gàng hoặc quét lại vôi cho mới. Sau đó treo 5 cán cờ nhỏ có dán giấy hình nhân với màu sắc rực rỡ ở 4 góc mộ và chính giữa mộ. Mộ nào có nhiều cờ hình nhân treo lên 5 cán thì chứng tỏ người đó có đông con, đông cháu. Mâm cơm cúng của người Sán Dìu ở mộ gồm có 5 nắm xôi, 5 con cá trôi trắng nướng, 5 chén rượu. Người già nhất trong gia đình sẽ đọc bài cúng thể hiện sự thành kính và cầu mong tổ tiên phù hộ cho con cháu có cuộc sống khỏe mạnh, đủ đầy. Khi hương tàn, tất cả mọi người ngả mâm quây quần cùng ăn ngay tại mộ, chuyện trò vui vẻ như muốn tri ân cùng người quá cố.

Ngày tảo mộ thì có thể trước, sau 3 ngày; nhưng đến ngày chính thanh minh thì mỗi gia đình lại tập trung con cháu làm cơm cúng tại nhà. Tại bàn thờ gia tiên thì cúng gà, xôi, rượu và bánh. Trong ngày này, ngoài bánh trôi như người Kinh thì Người Sán Dìu còn có khá nhiều loại bánh đặc sắc như: bánh “nép cóc phô” (gần giống như bánh xủi cảo, nhưng thay nhân thịt là nhân đỗ), bánh chấy (giống bánh trôi nhưng không có nhân và bao đường bên ngoài)...

Tết Thanh minh tuy là tết nhỏ, nhưng nó mang ý nghĩa lớn là sự báo hiếu đối với những người đã khuất trong dòng họ, là dịp biết ơn và ôn lại lai lịch của các thành viên, cũng là dịp để cao niên trong họ truyền lại cho con cháu đời sau ghi nhớ đến phần mộ của ông bà, tổ tiên. Đây cũng là nét đẹp mang bản sắc của người Sán Dìu cần được gìn giữ và lưu truyền cho muôn đời sau.

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

Khám phá bản văn hóa Tả Phìn (Sapa - Lào Cai)


Hãy một lần đặt chân đến với Tả Phìn, theo chân những phụ nữ Dao đỏ để có thêm nhiều trải nghiệm hoàn toàn khác cuộc sống hiện tại của chúng ta.

< Đường về bản Tả Pìn.

Mông, Dao đỏ, Giáy là ba dân tộc thiểu số sinh sống đông nhất ở huyện Sa Pa, Lào Cai. Mỗi dân tộc mang trong mình những nét đặc sắc về văn hóa và sức hấp dẫn riêng có. ​Trong đó phải kể đến bản Tả Phìn - nơi quần tụ rất đông dân tộc Dao đỏ với phong tục truyền thống rất đáng để du khách ghé tới tìm hiểu.
“Sa Pa đồi núi hồn nhiên
Chập chùng thửa ruộng lạc miền bậc thang
Xa xa thung lũng tơ vàng
Như trôi vào chốn bạt ngàn xứ tiên”.

Vùng đất Sa Pa quả là rất xứng đáng được viễn khách tặng lại những câu thơ này. Rời xa phố thị ồn ào, du khách không khỏi ngỡ ngàng khi trước mắt là con đường trải dài hai bên là những thửa ruộng bậc thang đang độ chín vàng. Bờ ruộng uốn lượn ôm sát lưng đồi tạo thành những đường cong mềm mại nối tiếp nhau dẫn tới bản Tả Phìn.



< Tu viện cổ Tả Phìn nay chỉ còn là phế tích hoang tàn sau lớp bụi thời gian.

Từ trung tâm thị trấn Sa Pa, bạn có thể thuê một chiếc xe máy để tự lái tới bản Tả Phìn cách đó chừng 12km về phía đông. Đường đi tới bản Tả Phìn có nhiều đoạn dốc cao, ngoằn nghèo và gồ ghề nên hãy đảm bảo rằng tay lái bạn đủ chắc để vừa đi, vừa có thể vãn cảnh ở đây. Điểm đầu tiên du khách nên dừng chân là tu viện cổ Tả Phìn - nơi tu hành của 12 nữ tu theo dòng tu khổ hạnh của Hội thánh Kito bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản, lưu lạc đến xứ đạo Lào Cai.

Tuy giờ chỉ là phế tích, còn lại với thời gian là những bức tường đá nhưng tu viện vẫn giữ những giá trị văn hóa và nét kiến trúc độc đáo thời thuộc Pháp đằng sau những lớp bụi thời gian phong kín. Đi sâu vào trung tâm bản, bạn nên dừng lại trước một nhà dân để gửi xe và đi bộ vào trong tham quan vì đường đi khá nhỏ.

Khi bạn xuống xe ngay đầu bản, người Dao đã thể hiện lòng mến khách bằng nụ cười và những câu chào hỏi tíu tít, mời khách ghé thăm và giới thiệu những nét văn hóa của dân tộc họ thể hiện ngay trong cách bố trí và sắp xếp các dụng cụ.



< Những góc bài trí đồ vật ngôi nhà đất của người Dao đỏ.

Người Dao thường xây nhà theo ba loại hình: nhà đất, nhà sàn và nhà nửa sàn - nửa đất, nhưng phần lớn người Dao đỏ ngụ ở bản Tả Phìn lại rất chuộng nhà đất với ba hoặc năm gian đứng (không có chái). Người ta cho rằng có ở nhà nền đất thì mới có chỗ để cúng Bàn vương.
Dulichgo
Người Dao đỏ thường sinh sống hai ba thế hệ trong một ngôi nhà gỗ nhiều gian. Trong đó, họ bố trí hai bếp, một bếp chính để nấu ăn và một bếp phụ ngay gần cửa để sưởi ấm mùa lạnh giá. Ở một vài góc gian giữa, không khó để bạn nhận ra những loại rau củ quả mà người dân trữ sẵn để sử dụng dần. Còn phía trên gác nhà xếp rất nhiều ngô để ăn trong năm vì mỗi năm họ chỉ thu hoạch được một vụ ngô mà thôi.

Ngoài công việc chính một năm một vụ trồng ngô và hai mùa lúa, những phụ nữ Dao đỏ ở nhà dệt đồ thổ cẩm hoặc hái lá thuốc trên rừng để biến chúng thành sản phẩm độc đáo phục vụ khách du lịch muôn phương đổ về.



< Ngâm mình trong bồn nước nóng với khói thuốc thơm nức gia truyền của đồng bào dân tộc.

Từ xưa, người Dao thường dùng những vị thuốc lá từ trên rừng về nấu nước tắm vào ngày cuối năm để đón năm mới. Nhận thấy việc tắm lá thuốc có tác dụng tốt cho sức khỏe, nhiều người dân đã linh hoạt mở dịch vụ tắm tại bản hoặc bán lá thuốc cho khách du lịch mang về. Để tắm lá thuốc theo truyền thống của người Dao đỏ, mỗi thùng nước tắm thường dùng đến hơn 10 loại lá thuốc, thậm chí có khi dùng tới 120 loại khác nhau.  

Bà Lý Tả Mẻ (55 tuổi) cho biết với mỗi thùng nước tắm, người dân sẽ lượng khoảng 3kg lá thuốc, pha vào một thùng lớn dung tích chừng 50 lít, đun sôi trong nước khoảng 20 phút rồi khi nhiệt độ giảm còn chừng 50 độ C thì có thể pha loãng nước để khách ngâm mình 15 - 30 phút. Với nhiều tác dụng như chữa các bệnh đau nhức cơ, xương, khớp, cảm cúm; hoặc để tăng cường thể lực cho phụ nữ sau khi đẻ hay người sau khi ốm.

Đặc biệt nếu du khách tới Sa Pa leo đỉnh Fansipan về thì lựa chọn ở lại tắm lá thuốc Dao đỏ sẽ giúp giảm đau cơ thể và sức khỏe được hồi phục rất nhanh. Hiện nay giá bán 1kg thuốc tắm tại bản chỉ khoảng 50.000 đồng, khá phù hợp đối với khách du lịch.
Dulichgo
Theo chân những phụ nữ Dao đỏ đi quanh bản, bạn có thể còn được biết phong tục đặt tên truyền thống của họ cũng rất thú vị. Người dân tộc Dao đỏ thường sử dụng một số họ phổ biến là Lý, Tẩn, Phan, Lò… và cách đặt tên đệm và tên chính cũng theo quy ước nhất định.

Trong mọi gia đình, các con gái có tên đệm theo thứ tự: con gái đầu có tên đệm là Tả, tên đệm của người tiếp theo là Lở, tiếp theo là San, Sử, Mán. Chẳng hạn, bà Lý Tả Mẻ là con gái đầu của gia đình nên bà có tên đệm giữa là “Tả”, em gái bà là Lý Lở Mẻ…

Đối với con trai, cách đặt này có chút hoán đổi vị trí. Sự phân biệt tên gọi của các anh em trai trong gia đình cũng giống như con gái theo thứ tự: Tả, Lở, San, Sử, Mán… nhưng những chữ này lại nằm ở cuối tên - có thể coi là tên chính của họ.

< Khi mặc, họa tiết đã tạo nên sự cân đối hài hòa cho toàn bộ y phục, thể hiện sự gần gũi và thân thiện với thiên nhiên của người Dao đỏ.

Giả sử trong gia đình có ba anh em trai, tên của họ lần lượt sẽ là Lò Láo Tả, Lò Láo Lở, Lò Láo San…
Thật sự người Dao đỏ có cách đặt tên tương đối dễ nhớ và khá thú vị theo một quy luật nhất định là thế.
Dulichgo
Ngoài những đặc sắc kể trên, điều dễ thấy nhất trong văn hóa dân tộc này thể hiện ngay ở trang phục truyền thống của họ. Tất cả những bộ quần áo hay khăn quấn đầu đều do chính đôi bàn tay những phụ nữ nơi đây đan, dệt nên. Theo quan niệm dân gian của người Dao đỏ, bộ trang phục hay còn gọi là “luy hâu” bao gồm khăn, mũ, áo, quần, thắt lưng, xà cạp quấn chân và giày dép. Để tạo thành bộ y phục đẹp phải có năm màu cơ bản nhưng chủ yếu nhất vẫn là màu đỏ.

Khăn đội đầu (goòng phà) được người Dao đỏ trang trí hình vết hổ, cây vạn hoa, hình cách đoạn... màu chủ đạo là đỏ và viền có màu trắng, nay đã được đơn giản hóa và thiết kế gọn gàng để tiện cho sinh hoạt hằng ngày.



< Chiếc khăn đỏ và bộ phần áo xanh đen nhiều họa tiết là đặc trưng trong trang phục của phụ nữ Dao đỏ.

Với quần áo, màu chính yếu vẫn là xanh đen, thắt lưng phải cuốn từ 3-4 vòng và buộc chặt phía sau. Hoa văn trang trí trên quần được thêu thùa tỉ mỉ hơn. Họa tiết ở viền áo và nửa dưới của hai ống quần là các họa tiết hình vuông, hình chữ nhật màu đỏ - vàng - trắng, hình cây thông, hình chữ vạn, hình quả trám...
Khi mặc, họa tiết đã tạo nên sự cân đối hài hòa cho toàn bộ y phục, thể hiện sự gần gũi và thân thiện với thiên nhiên của người Dao đỏ.

Với nếp sống bình dị quanh bản làng yên an, bên bếp củi truyền thống, trong ngôi nhà đất quần tụ nhiều thế hệ, những người dân Dao đỏ luôn cởi mở đón những lượt khách du lịch cùng mong muốn được tiếp xúc với những gì mới hơn, khác hơn và có thể cải thiện cuộc sống của mình nhờ những dịch vụ du lịch thân thiện nơi đây.

Theo Mỹ Phượng (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Lời nguyền trăm năm trên Núi Mỏ Quạ (Vĩnh Phúc)


Từ xa xưa, những bậc cao niên trong vùng đã truyền tụng lại rằng, bất cứ đôi trai gái nào đủ dũng cảm, kiên trì cùng nhau lên tới đỉnh núi Mỏ Quạ (còn gọi là núi Đao Cay), xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để ngồi vào “bàn cờ tình yêu” thì họ sẽ sống với nhau hạnh phúc đến bạc đầu răng long.Kỳ lạ thay, lời nguyền về một tình yêu vĩnh cửu từ thuở trước đến nay vẫn linh nghiệm bởi dẫu đã đi qua hàng thế kỷ nhưng nơi đây rất hiếm khi xảy ra một vụ ly hôn nào.

Bàn cờ đá chứng nhân tình yêu đôi lứa

Trong những câu chuyện truyền khẩu của người dân xã Trung Mỹ, người ta vẫn kể cho nhau nghe về huyền tích núi Mỏ Quạ - ngọn núi mang lời nguyền tình yêu. Và câu chuyện ấy đã trở thành một nét đẹp trong văn hóa gia đình, trai gái trong làng dù có đi đâu nhưng cứ mỗi khi nhớ về quê hương, nhớ về ngọn núi đầy thân thương là họ lại bảo ban nhau ăn ở cho phải đạo vợ chồng.

Theo các bậc cao niên trong làng, câu chuyện về lời nguyền tình yêu trên đỉnh núi Mỏ Quạ đã được lưu truyền từ rất nhiều đời nay. Núi Mỏ Quạ là một trong những ngọn núi cao thuộc dãy Tam Đảo, trải rộng trên 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang, trên đỉnh có mỏm đá khổng lồ nhô ngang ra nhìn giống như chiếc mỏ quạ quay về hướng Tây Nam. Tương truyền rằng ngày xưa có một đôi trai gái tuổi đôi mươi yêu nhau nhưng đều bị gia đình nhất mực ngăn cản vì hai họ vốn có mối thù truyền kiếp.

Quyết tâm thực hiện lời thề ước sống chết có nhau, đôi trẻ đã quyết bỏ trốn ngay trong đêm tối. Không may gia đình hai bên phát hiện nên đã phái gia nhân truy đuổi hai người gắt gao.



Cứ thế, đôi trẻ nắm tay nhau chạy miết cho đến tận chân núi Mỏ Quạ mà tiếng vó ngựa kèm đuốc sáng vẫn bám sát không rời. Cùng đường, chàng trai đành dắt cô gái, xé màn đêm mà leo thẳng lên đỉnh núi. Cho đến gần sáng, khi đã mệt nhoài thì hai người lên đến đỉnh núi. Tại đây, họ phát hiện ra sau làn sương mù thấp thoáng bóng dáng một ông lão và một bà lão râu tóc bạc phơ, mặt đẹp như tiên trong trang phục áo trắng như mây ngồi chụm đầu say sưa trên một phiến đá rộng rãi, bằng phẳng. Vừa phát hiện ra có người lạ, ông bà liền theo mây bay về trời.
Dulichgo
Tò mò, chàng trai và cô gái đã lại gần phiến đá thì mới biết đó là một bàn cờ đang dở dang. Quay đầu lại, đôi tình nhân cũng không còn thấy bóng dáng của những gia nhân truy đuổi. Cũng trên chính bàn cờ đá khổng lồ ấy, hai người đã làm lễ bái lạy trời đất với lời thề đời đời, kiếp kiếp yêu nhau. Nếu một trong hai người bội bạc quên nghĩa phu thê sẽ bị gặp quả báo tai ương. 

Và rồi như lời thề ước, hai người đã sống với nhau trọn kiếp và sinh con đẻ cháu trên ngọn núi Mỏ Quạ. Sau này khi họ chết đi, con cháu đã đặt tên cho phiến đá ấy là “bàn cờ tình yêu”, và để lại một lời nguyền rằng bất cứ đôi trai gái nào leo được lên đến đỉnh, ngồi vào bàn cờ tình yêu thì họ sẽ sống với nhau hạnh phúc cho đến khi đầu bạc, răng long. 

< Nhìn từ trên đập Thanh Lanh, cảnh sắc nơi đây lung linh, mờ ảo nhưng ẩn chứa một bí mật dài hàng thế kỷ. 

Cụ Dương Văn Đào, ở thôn Trung Mầu, xã Trung Mỹ, một trong những người cao niên nhất sống dưới chân ngọn núi huyền thoại này cho biết, cũng vì sự diệu kỳ của lời nguyền mà từ hàng thế kỷ nay, không ít cặp trai gái thương yêu nhau nhưng vì nhiều rào cản mà không thể đến được với nhau đã từ khắp nơi cố công rủ nhau leo lên tận đỉnh núi Mỏ Quạ này để ngồi vào bàn cờ tình yêu trước sự chứng kiến của đất núi mây trời. “Ngày nay, bàn cờ và các quân cờ thô sơ bằng đá vẫn còn nguyên trên đỉnh Mỏ Quạ.

Tuy nhiên có lẽ vì bây giờ là thời buổi trai gái tự do yêu đương, tìm hiểu nhau, những rào cản như xưa không còn hiện hữu nữa nên rất lâu rồi tôi không thấy đôi bạn trẻ nào tìm đường lên bàn cờ tình yêu nữa”, cụ Dương Văn Đào cho biết. 
Dulichgo
Không chỉ có cụ Dương Văn Đào tin vào lời nguyền tình yêu mà nhiều người sống dưới chân núi cho rằng lời nguyền đó rất linh ứng. Cụ Phan Văn Thén, ở thôn Thanh Lanh, xã Trung Mỹ - người đã từng leo lên đỉnh núi và ngồi vào bàn cờ tình yêu kể lại, thời còn trai trẻ cụ có lần đã đánh bạo theo lối mòn bị mây mù che phủ để leo lên đỉnh núi. Sau gần một ngày mò mẫm, cụ thấy một phiến đá to bằng phẳng có thể trải được hai chiếc chiếu hiện ra, trên đó có những quân cờ bằng đá thô sơ được đặt trên những dòng kẻ ô vuông.

< Về xã Trung Mỹ, vẫn thường thấy những cặp vợ chồng già đèo nhau như thế này. 

Lúc đó cụ và người con gái đi cùng đã ngồi vào bàn cờ... Và lời nguyền tình yêu đã linh ứng, sau này người con gái ấy đã làm vợ cụ Thén và sinh cho cụ được 6 người con. Sau 70 năm chung sống, vợ chồng cụ Thén chưa từng to tiếng với nhau bao giờ. Giờ đây cụ đã ở tuổi cổ lai hy, con đàn cháu đống mà hai người vẫn tình cảm với nhau. Cứ có việc gì trong làng là hai cụ lại đèo nhau bằng xe đạp, con cháu cụ biết hai cụ dù có tuổi nhưng vẫn còn yêu nhau nhiều lắm!  

Cụ Thén còn kể, hiện trên núi Mỏ Quạ ở sườn núi phía Nam có những vách đá dựng đứng tạo ra các khe nứt với những hang sâu hun hút, nhiều hốc núi là nơi chưa từng có dấu chân người. Ngược lại, ở sườn núi phía Bắc lại có những cánh rừng rậm rạp với nhiều giống chim rừng, hươu, nai... Chính cảnh đẹp như bức tranh thủy mặc ấy đã chứng kiến cho biết bao cuộc hẹn hò thề ước của các cặp trai gái trong làng và tất cả sau này đều sống hạnh phúc với nhau suốt đời. Với cụ Thén, lời nguyền từ “bàn thờ tình yêu” là một sự thật không thể chối cãi!

Làng chung thủy số 1

Bao năm nay, cảnh sắc trên ngọn núi Mỏ Quạ vẫn lung linh, huyền ảo và lời nguyền tình yêu trên đỉnh núi Mỏ Quạ vẫn còn đang lan tỏa tác dụng xuống những khu dân cư sống dưới chân núi. Ông Phạm Hùng Oanh, cán bộ Tư pháp xã Trung Mỹ cho biết: “Đã từ rất lâu rồi trong xã không có gia đình nào xảy ra chuyện ly hôn. Có lẽ vì trân trọng truyền thuyết về “bàn cờ tình yêu” nên thế hệ trước luôn dạy thế hệ sau rằng mỗi người trong gia đình đều phải học cách giữ hòa khí, học cách giữ được đạo nghĩa vợ chồng và điều này khiến các cặp vợ chồng trong xã luôn “tương kính như tân”.

< Thung lũng dưới chân núi Mỏ Quạ. 

Còn theo ông Trương Quang Vinh, Phó Chủ tịch xã Trung Mỹ thì lời nguyền và chiếc “bàn cờ tình yêu” trên đỉnh núi Mỏ Quạ chỉ được truyền khẩu dân gian, thật tiếc khi không có tài liệu hoặc cuốn sách nào ghi chép về điều này. “Nhưng đúng là lâu nay chuyện tình yêu luôn là một điều gì đó rất thiêng liêng với nam thanh nữ tú trong xã chúng tôi. Nếu mỗi người đều dựa vào lời nguyền để hướng cách suy nghĩ của mình nhằm giữ gìn hạnh phúc gia đình thì đó thực sự là một nét văn hóa đẹp”.
Dulichgo
Dù biết rằng chuyện tình yêu đôi lứa, chuyện vợ chồng phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau song với những con người nơi đây, không biết tự bao giờ họ đã chấp nhận lời nguyền tình yêu trên đỉnh núi Mỏ Quạ như một sự mặc nhiên của tạo hóa. Đồng bào các dân tộc nơi đây từ xưa đến nay vẫn có truyền thống là đã yêu nhau thì phải cưới nhau, đã cưới nhau thì phải tôn trọng nhau và ở bên nhau cho đến suốt đời, người đàn ông không bao giờ được bỏ vợ, và khi vợ chết đi rồi thì cũng không bao giờ được đi bước nữa.

Người dân nơi đây vẫn thường nói Mỏ Quạ đội mũ thì nước lũ sắp về. Do là núi rất cao, trên 1000 mét; đỉnh núi luôn có mây mù bao phủ, rất hiếm khi người ta trông được rõ đỉnh núi. Những khi nào mây mờ tan đi, nhìn thấy được mây đen thì đó là lúc sắp có mưa bão lớn, nước lũ tràn về rất nhanh và gấp.



< Hiếm khi lắm, người ta mới được trông thấy Đỉnh Đao Cay trên núi Mỏ Quạ do nơi đây quanh năm được mây mù bao phủ. 


Núi Mỏ Quạ còn nhiều nơi chưa từng có dấu chân người, nhất là sườn núi phía Nam. Trên các vách đá dựng đứng có nhiều khe nứt thành hang sâu hun hút, nhiều hốc núi lở từ thời cổ để lại, lổng chổng những đá. Sườn núi phía Bắc có những cánh rừng rậm rạp chen nhau với nhiều giống chim muông. Từ lưng chừng núi có nhiều khe nước len lỏi trong vách đá để dồn tụ về Thác Mơ cao vài chục mét ngày đêm rót nước trắng xoá xuống suối NaNu rồi cùng với suối Lẽ, suối Cả quanh năm gom nước cho hồ Thanh Lanh và hồ Gia Khau.

Chính vì cảnh đẹp như bức tranh thủy mặc ấy nên cách đây hàng trăm năm, ngọn núi này được truyền rằng là nơi chứng kiến biết bao cuộc hẹn hò thề ước của các cặp trai gái và tất cả sau này đều sống hạnh phúc với nhau suốt đời. Và người ta tin rằng đã có một lời nguyền trên đỉnh núi ràng buộc tất cả những người đến đó yêu thương nhau trọn đời.

Sự thật về lời nguyền trên đỉnh Đao Cay đến nay thực hư chưa rõ. Những dấu tích về núi tình yêu trải qua hàng trăm năm đến nay đã bị thời gian bào mòn song có một thực tế rằng nhân dân 8 dân tộc anh em sống dưới chân ngọn núi Mỏ Quạ trước đây vẫn tìm nhiều cách để được chấp nhận lời nguyền trọn vẹn sống với nhau và hầu như họ không bao giờ ký vào tờ đơn ly hôn.

Theo Tự Long (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Lễ cúng ma khô của người H Mông (Hà Giang)


Người thân sẽ mổ bò, mổ lợn, cầu cho người chết tìm được đường về yên nghỉ với tổ tiên trong lễ cúng "ma khô" của người Mông ở cao nguyên đá Hà Giang.

Ngày nay, tập tục cúng ma khô của người Mông tại Mèo Vạc, Hà Giang đã có nhiều biến đổi nhưng tục này vẫn được duy trì với nhiều bản sắc độc đáo. Khác với người dân tộc Kinh, khi người thân mất đi, họ thường tổ chức cúng 49 hay 100 ngày, nhưng người dân tộc Mông sau một năm mới tổ chức đám giỗ, gọi là cúng "ma khô". Cũng tùy theo điều kiện kinh tế của từng dòng họ, từng gia đình mà họ có tục làm ma khô khác nhau. Người có điều kiện khá giả thì mổ cả con bò, con lợn, người khó khăn hơn thì chỉ mổ một đôi gà, tuy nhiên họ đều mong muốn cho linh hồn người đã chết được siêu thoát.



< Lễ ma khô của người Mông cũng mang ý nghĩa tương tự như lễ giỗ đầu của người Kinh. 

Thường trước đó, trong lễ tang người chết, thầy cúng hứa với ma sẽ làm lễ ma khô (làm lễ chay) 12 ngày sau khi chôn cất. Nếu đến ngày đó mà gia đình chưa có điều kiện sẽ phải hứa lại, nếu không làm sẽ bị ma quấy rối không cho làm ăn, làm mặc tốt đẹp. Người Mông sống rất tín nghĩa, đã hẹn làm điều gì thì phải làm bằng được, vì vậy, khi có điều kiện, người Mông sẽ mời thầy cúng về làm lễ dưới sự chứng kiến và tham dự của anh em, họ tộc.



< Lễ rước “ma khô” ra đồng diễn ra rất nhanh, sau khi hoàn tất, mọi người đều nhanh chóng trở về nhà gia chủ và tham gia bữa tiệc cúng ma. 
Dulichgo
Để làm lễ Ma khô, không thể thiếu cẩu vá, hình nộm được làm bằng tre vót tròn uốn cong biểu tượng cho chiếc quan tài chứa người đã khuất. Đầu buổi sáng, anh em, người thân tron nhà tụ tập lại, chuẩn bị sẵn gà, lợn, xôi rồi tiến hành nghi lễ. Người ta dựng một chiếc cột trước nhà, rồi mang chiếc trống treo lên cột, gõ khua rộn rã cùng với tiếng khèn.

Một số người mang rơm và cành cây đến để dựng một chiếc lều nhỏ, tượng trưng cho ngôi nhà dành cho những người đã mất. Trong lúc dựng lều, thầy cúng cùng người thổi khèn đi vòng quanh chiếc lều, vừa đi vừa hát. Chiếc cẩu vá được đặt trên chiếc chiếu trải phía trong lều, trên đó có xôi, một chén đựng rượu, một ống trúc bị chẻ làm đôi và một cái muôi nhỏ để múc rượu. Cùng lúc đó, gà, lợn... được mang ra để làm lễ tế.



< Đi đầu đoàn rước ma là những người thân trong gia đình, tiếp đến là thầy trống, thầy khèn, một phụ nữ cầm bó đuốc rơm, vừa đi vừa huơ tay như thể mở đường cho “ma khô”. 

Thầy cúng vừa hát bài ca gọi hồn bằng tiếng Mông có ý nghĩa ca ngợi tổ tiên, bày tỏ tình cảm thương mến với người đã chết, đồng thời cũng răn dạy, dặn dò những người còn sống phải chăm chỉ làm ăn sẽ giúp họ thoát khỏi đói nghèo. Sau đó, thầy cúng vừa rót rượu rồi tung ống trúc, nếu sau khi tung hai mảnh trúc tách rời nhau ra nghĩa là người chết chưa ưng còn nếu sau khi rơi xuống chiếu, hai mảnh trúc vẫn dính vào nhau nghĩa là lời cầu xin đã được ưng thuận.
Dulichgo
Theo tục lệ, những điệu nhạc và điệu trống sẽ được chơi trong suốt thời gian “ma khô” được cúng tế. Tuy nhiên những âm thanh này không mang không khí đau thương, bi lụy mà như lời nhắn nhủ con người cần phải yêu thương nhau hơn.



Khi ma khô đồng ý ra khỏi nhà, gia đình sẽ làm lễ tiễn. Đi đầu đoàn là những người thân, tiếp đến là người đánh trống, khèn, một phụ nữ cầm bó đuốc rơm, vừa đi vừa huơ tay như thể mở đường cho ma khô. Một người đàn ông nâng biểu tượng “con ma” có mặc chiếc áo cũ của người đã khuất, nhiều dân làng xếp hàng đi thành đoàn dài phía sau.

Đám rước vừa đi vừa đánh trống, thổi khèn. Đến gần ngôi mộ chôn người chết thì dừng lại, hạ “ma khô” xuống đất, tiến hành mời rượu và lại tung hai nửa gióng tre để hỏi lại người chết có thật sự muốn đi về với tổ tiên không. Khi được đồng ý, tất cả mọi người đều cười hỉ hả và ma khô lập tức được tung lên, bay ra xa. Lúc này người chết đã tìm được đường về với tổ tiên. Sau khi hoàn tất, mọi người đều nhanh chóng trở về nhà gia chủ và tham gia bữa tiệc cúng ma.

Theo Song An (Dân Trí)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Chợ phiên ở Xứ Đoài (Thạch Thất Hà Nội)


Ngoài những buổi chợ phiên nổi tiếng ở Hà Nội như chợ Mơ, chợ Bưởi... thì một vùng đất mới của Hà Nội - xứ Đoài - còn một chợ phiên độc đáo, đó là chợ Nủa lưu giữ những nét đặc sắc của chợ phiên đồng bằng Bắc bộ. 

Không có bất kỳ tấm bảng biển nào gắn ở cổng chợ, chợ Nủa nằm trên một khu đất trống giữa bốn bề là cánh đồng lúa bát ngát thuộc xã Bình Phú, huyện Thạch Thất. Theo các cụ cao niên kể lại thì từ xưa, chợ vẫn chỉ họp vào các ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27 âm lịch hàng tháng. Ngày thường đến chợ, bạn chỉ có thể bắt gặp những dãy lều lợp rơm, lợp lá đứng lặng lẽ giữa bãi đất trống mà thôi. Chợ ở đây không có cổng ngõ, chỉ có những con đường đất dẫn đến nơi họp chợ.



< Người đàn ông này vừa rút 70.000 đồng để mua hai trái bưởi vàng rực… 

Chợ Nủa không lớn lắm nhưng ở đây tập trung một lượng người khá lớn đến từ các xã ở xung quanh như Hữu Bằng, Phú Ổ, Thạch Xá, Chàng Sơn, Canh Nậu, Cần Kiệm... Đặc biệt hai phiên chợ cuối cùng của năm (22 và 27 tháng Chạp) thường là nơi hội tụ phong phú nhất các sản vật quanh vùng, cũng là 2 phiên đông vui và được nhiều người chờ đợi nhất.
Dulichgo
Theo các cụ cao niên kể lại, xưa kia hai phiên chợ cuối năm này còn có “quy định”: “Gái hăm hai, trai hăm bảy” (tức: Con gái thì đi phiên 22, con trai đi phiên 27). Ngày nay, câu nói ấy vẫn nhiều người biết, nhưng bây giờ phiên chợ nào cũng tập nập đủ mọi tầng lớp. 



< Hàng bán tranh, lịch và hoa lụa. 

Khác với những cái "chợ cóc" có mặt ở khắp các thôn làng để đáp ứng tức thời nhu cầu trong sinh hoạt thường nhật, bà con nông dân sau những ngày lao động vất vả trên cánh đồng thường đến với phiên chợ Nủa như một sự trao đổi, buôn bán, tìm hiểu sự phát triển của các làng xã xung quanh thông qua các sản vật mới xuất hiện và giải trí lành mạnh. Đi chợ, chơi cho vui, gặp cái gì hay hay, đèm đẹp thì mua sắm. Có nhiều người đến để bán - mua, nhưng cũng có những người đi chơi chợ cho thỏa nỗi nhớ, còn đám trẻ con thì thích theo bà theo mẹ đi để được ăn quà. Cũng có người cả năm đi làm ăn xa, thu xếp về kịp phiên chợ tết như để thực hiện một chuyến “du lịch cho tâm hồn”…



Ngay trên con đường đất nối vào chợ là hai dãy bán những sản vật của vùng đồi núi trung du bán sơn địa như Tây Phương - Cần Kiệm. Mùa nào thức ấy. Bên cạnh những rổ chè tươi rói vừa hái còn ướt đẫm sương đêm là những rổ sấu xanh, khế chua, khế ngọt, trám đen, đu đủ, quất quýt...
Dulichgo
Lại có cả những chiếc măng mai mũm mĩm, cái nào cái nấy to như bắp vế, những rổ khoai lang mập mạp, những tải sắn, củ to đùng chỉ nhìn đã ứa nước miếng.



< Khu bán gia cầm. 

Ở phía ngoài chợ, người ta không quy định từng dãy hàng hóa, ai chiếm được chỗ nào thì ngồi chỗ đó, lâu ngày thành "chỗ của mình". Bởi vậy các loại hàng hóa được bày bán cạnh nhau thật phong phú đa dạng. Những thức quà quê được chế biến từ sản vật nông nghiệp như bánh tẻ nổi tiếng Cầu Liêu, bánh gai, bánh giò... là những thứ quà mà bà con nơi đây ưa chuộng. Bên cạnh những địa điểm bán đồ hàng nhựa phục vụ cho cuộc sống ngày nay còn có một gánh hàng độc đáo đó là hàng nhuộm.



< Bác thợ đánh chìa khóa thích… chơi chữ! 

Những bộ quần áo bạc màu vì nắng gió cứ đến phiên chợ Nủa lại được bà con đem nhuộm lại cho mới. Với nồi nước nhuộm lúc nào cũng sôi sùng sục trên bếp, bác hàng nhanh tay thả những chiếc quần áo vào chỉ một lát sau, quần áo đã chuyển sang màu cần nhuộm, và lại tươi màu như mới.

Ở giữa chợ là những dãy hàng đủ các loại. Nào là hàng vải vóc, hàng quần áo với đầy đủ sắc màu rực rỡ vui mắt. Nào là dãy hàng khô, hàng trầu cau, hàng quà bánh, bún, phở, hàng xén, hàng mã... Với đặc điểm nổi bật của một vùng nông nghiệp trù phú nên chợ Nủa còn có hẳn một khu dành bán gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn giống, chó, mèo... Đến đây bà con nông dân tha hồ chọn lựa rồi thỏa thuận bán mua để đem con giống về nhà.



< Trẻ con cũng theo bố mẹ đi chợ. 
Dulichgo
Ngay cạnh khu bán gia súc là cả một rừng đủ loại những đồ hàng tre đan như rổ rá, đơm đó, giỏ, lờ, nơm, giành, sọt... Chỉ với một vài ba nghìn đồng, bà con nơi đây đã có thể có trên tay những chiếc rổ con xinh xắn. Còn trên một khoảnh đất rộng bên ngoài chợ là nơi tập kết của những xe tre dài ngoẵng. Người bán có thể là những người chuyên đi chặt tre, rồi bán buôn, cũng có thể họ là người trồng ra được. Còn người mua là người làm nghề tiểu thủ công nghiệp. Từ những cây tre này, dưới bàn tay khéo léo, họ cho ra đời những mặt hàng độc đáo, đôi khi còn có giá trị xuất khẩu.



Quả thực, đi chợ Nủa đối với bà con nơi đây, ngoài việc để mua sắm còn là cả một thú vui, vì còn gì bằng khi vừa ngắm chợ, vừa nhâm nhi một chút quà quê lại vừa được ngắm cảnh cánh đồng lúa xanh bát ngát. Bây giờ có đường cao tốc Láng - Hòa Lạc, từ trung tâm thành phố về chợ Nủa càng thuận tiện là cơ hội để du khách ghé thăm một phiên chợ quê còn giữ được nhiều nét đặt sắc của chợ phiên vùng đồng bằng Bắc bộ.

Theo Hồng Vân (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Bài đăng phổ biến