Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

Hang Luồn Ao Dong - Vẻ đẹp hoang sơ (Hà Nam)

Được sự sắp đặt khéo léo của tự nhiên, với mặt nước trong xanh, núi đá vôi, hang động thạch nhũ… ao Dong – hang Luồn đang trở thành điểm đến mới hứa hẹn thu hút du khách đến Hà Nam.
Từ Hà Nội, chúng tôi chạy dọc quốc lộ 1A cũ, qua địa phận huyện Thường Tín, Phú Xuyên để bắt đầu hành trình khám phá Hà Nam một ngày.
Hà Nam không phải là tỉnh được nhắc tới với nhiều điểm du lịch nổi tiếng, chủ yếu với hệ thống các ngôi chùa như chùa bà Đanh, Long Đọi Sơn cùng những nhà thờ có kiến trúc độc đáo. Vì vậy du lịch Hà Nam còn khá mới mẻ với nhiều người. Nhưng có lẽ từ bây giờ, những ai thích trải nghiệm sẽ có thêm một điểm đến trong sổ tay mỗi khi nhớ đến vùng đất này: ao Dong – hang Luồn.

Ngoài những địa điểm nổi tiếng không thể bỏ qua như chùa Bà Đanh, nhà Bá Kiến cũng như thưởng thức các món ăn nổi tiếng như bánh cuốn Phủ Lý, chuối ngự, cá kho làng Đại Hoàng, trong danh sách những nơi sẽ đi qua có một điểm khá mới mẻ mà tôi mới nghe lần đầu. Đó là ao Dong – hang Luồn.
Ao Dong thuộc địa phận xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng. Từ trung tâm thành phố Phủ Lý, sau khi qua cầu Hồng Phú, chúng tôi hỏi đường tới Bút Phong khá dễ dàng vì người dân bên đường sẵn lòng chỉ dẫn.
Do chưa được khai thác du lịch nên phải chú ý quan sát mới nhìn thấy chỉ dẫn vào ao Dong viết trên tấm gỗ dựng ven đường. Là vùng khai thác đá cho ngành công nghiệp ximăng, việc tồn tại một nơi có vẻ đẹp yên bình có thể khiến nhiều người bất ngờ.
Đi hết con dốc dẫn vào khu khai thác đá, cả nhóm gửi xe ở chân dốc rồi tìm đường tản bộ xuống ao.
Con đường dẫn xuống ao Dong - hang Luồn - Ảnh: Minh Đức
Con đường dẫn xuống ao Dong – hang Luồn – Ảnh: Minh Đức
Cô lái đò ao Dong - Ảnh: Minh Đức
Cô lái đò ao Dong – Ảnh: Minh Đức
Do các dãy núi vòng cung bao bọc nên khu vực này trước kia không được nhiều người biết tới cho đến khi các hoạt động khai thác đá làm lộ ra con đường dẫn xuống khu vực hang Luồn.
Tiếp tục đi bộ hết con dốc, rẽ sang một lối nhỏ lần theo sườn núi toàn đá hộc mới tới được ao Dong.
Bỏ lại những ồn ào, bụi bặm bên ngoài khu công trường, quang cảnh trước mắt hiện lên thơ mộng và trong lành. Chỉ vỏn vẹn hơn 300 mẫu nhưng ao Dong có đầy đủ vẻ đẹp như các địa danh đá vôi nổi tiếng ở Tam Cốc, Tràng An (Ninh Bình).
Như một tấm gương lớn soi bóng thế núi hùng vĩ khắp phía, mặt nước ao xanh trong nhìn rõ những rong rêu đang uốn mình theo làn nước, bên trên là những thảm hoa súng bung nở…
Không ai biết cái tên ao Dong có từ đâu, nhưng nhiều người cho rằng tên gốc là “rong” vì có nhiều rong rêu, sau đó đọc sai thành “Dong”.
Ở đây chỉ có một ngôi nhà nhỏ bên núi của người trông coi ao. Chúng tôi hỏi thuê thuyền thì được biết khách từ xa tới đây thường phải trả 10.000 đồng tham quan và thêm tiền đò.
Tuy nhiên, ngồi chuyện trò một lúc, người phụ nữ đồng ý giá 150.000 đồng cho sáu người dạo chơi trên thuyền, không thu thêm “vé vào cửa”.
Mùa cạn du khách vẫn có thể đi vào hang Luồn
Mùa cạn du khách vẫn có thể đi vào hang Luồn
Vẻ đẹp nơi hang Luồn thông ra bên ngoài - Ảnh: Minh Đức
Vẻ đẹp nơi hang Luồn thông ra bên ngoài – Ảnh: Minh Đức
Đang mùa cạn nên thuyền đi vào hang khá dễ dàng. Hang Luồn có chiều dài khoảng 400m, kích thước khá nhỏ, nhưng vòm cửa hang rộng với những tán cây xòa bóng. Mùa nước lên thuyền không thể đi vào hang do nước ngập kín cửa.
Vừa tiến tới cửa hang mọi người đã cảm nhận được không khí mát lạnh và gió hun hút thông qua hai đầu hang. Cô lái đò đưa chúng tôi đèn pin và vừa chèo vừa chỉ dẫn, giới thiệu từng thạch nhũ trên trần hang.
Chưa bị bàn tay con người tác động và không bị ánh đèn làm biến sắc nên những thạch nhũ đủ các hình dáng trong hang vẫn giữ được vẻ đẹp tự nhiên, cuốn hút.
Len lỏi sâu vào hang cảm giác như con thuyền đang khẽ khàng chạm vào thế giới cổ tích huyền ảo.
Đi hết lòng hang, mọi người như hòa mình vào khung cảnh yên bình của những cánh đồng dưới chân núi đá vôi bên ngoài. Dừng chân một lúc, thuyền quay lại con đường cũ, đưa khách ghé thăm thêm hang động phía tay phải.
Qua một cây cầu đá nhỏ là tiến vào cổng hang nước thứ hai. Đây là hang kín và ngắn với những vùng nước sâu. Những khối nhũ đá trong hang tạo hình đa dạng hơn, từ những bông hoa hồng cho tới hình ảnh sóng nước, bầu ngực phụ nữ…
Những thạch nhũ muôn hình vạn trạng - Ảnh: Minh Đức
Những thạch nhũ muôn hình vạn trạng – Ảnh: Minh Đức
Cây cầu đá được người dân dựng lên, tạo điểm nhấn cho bức tranh thủy mặc - Ảnh: Minh Đức
Cây cầu đá được người dân dựng lên, tạo điểm nhấn cho bức tranh thủy mặc – Ảnh: Minh Đức
Thỏa thích ngắm cảnh, chụp ảnh… chúng tôi vừa lên bờ thì gặp mấy người dân địa phương ghé xuống ao thư giãn sau giờ làm việc về.
Trò chuyện với họ mới hiểu nhiều hơn về mảnh đất này. Đây cũng là nơi mà chiều chiều người dân xung quanh tụ tập chuyện trò, tắm mát hoặc tận hưởng chút yên bình cuối ngày.
Sau những giờ ngao du sơn thủy, cả nhóm vui vẻ nán lại, lắng nghe tiếng chim hót và tiếng nước chảy róc rách từ trên đỉnh núi.
Rời ao Dong – hang Luồn khi nắng chiều dần dịu lại, khung cảnh thiên nhiên như tĩnh lặng, u tịch hơn bao giờ hết. Có lẽ từ bây giờ chúng tôi đã có thêm một điểm đến trong sổ tay mỗi khi nhớ đến đất Hà Nam.

Bát Cảnh Sơn (Hà Nam)

Với hình sông thế núi ấy cùng với hệ thống đền, chùa cổ kính uy nghiêm, nơi đây từ xưa được coi là một thắng cảnh của trấn Sơn Nam.Theo Lịch triều hiến chương loại chí (phần Dư địa chí) của Phan Huy Chú thì vào thế kỷ thứ 16, Nghị tổ Trịnh Doanh qua đây chiêm ngưỡng đã ví Bát cảnh sơn với Tiêu Tương bên Trung Quốc và cho lập hành cung để đi về thưởng ngoạn.
Xưa kia, ở Bát cảnh sơn có 8 ngôi chùa và một ngôi miếu thờ thổ đại thần linh được bài trí xây dựng theo thuyết bát quái ngũ hành, cũng từ đó cái tên Bát Cảnh Sơn đã được đặt cho nơi đây. 

Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là do thời gian và chiến tranh tàn phá, thắng cảnh Bát Cảnh Sơn đã bị phá hoại đi rất nhiều. Trong số 8 ngôi chùa, miếu thờ chỉ còn lại 3 ngôi chùa còn nguyên vẹn, đó là đền tiên ông và chùa Tam Giáo, chùa Ông.
Cảnh quan hồ nước trước chùa Ông.
Xét theo tổng thể ở phạm vi rộng thì Bát cảnh sơn là một cụm du lịch của quần thể Hương Sơn bởi hai thắng cảnh này rất gần gũi, tiếp giáp với nhau liền mạch trong dãy núi đá vôi Hà Nam - Hà Tây cũ. Theo vị trí địa lý hành chính, Bát cảnh sơn là "tiểu thắng cảnh", là cửa ngõ Hương Sơn, nằm trong xã Tượng Linh, nơi ngã ba của 3 huyện Kim Bảng (Hà Nam), Mỹ Đức, Ứng Hoà (Hà Tây cũ).
Trong quần thể ấy, nổi bật là đền Tiên Ông nằm trên núi Tượng Lĩnh. Đi qua 150 bậc đá cao chừng 100 m, ngôi đền uy nghi, nằm sững sừng trên lưng chừng núi sẽ hiện ra trước mắt. Nhiều tao nhân mặc khách đến đây muốn giải thoát khỏi trần tục, để rồi yêu luôn chốn này. Nhiều bài thơ, tựa đề đã được khắc lên những cánh cửa ca tụng vẻ đẹp và cõi thiêng của đền. Trong khuôn viên của đền có nhiều thần phả, sắc phong quý hiếm cũng như những hoành phi, đại tự, câu đối có từ xa xưa. Ngôi đền được chia thành 5 gian nhà khách, 3 gian thờ tổ. Đứng trên đây có thể bao quát được toàn bộ xã Tượng Lĩnh đang từng ngày thay da đổi thịt, với những cánh đồng thẳng cánh cò bay và hàng loạt ngôi nhà khang trang mọc lên san sát.
Hình ảnh toàn bộ những ngọn núi quanh xã Tượng Lĩnh (hình ảnh được chụp từ vị trí chùa Kiêu). 
Ngay dưới chân của đền Tiên Ông là chùa Ông, trước kia chùa rất rộng nhưng đến nay đã bị thu hẹp đáng kể do thiên nhiên và chiến tranh. Phía trước chùa là một hồ rộng, mỗi khi hoàng hôn buông, nơi đây đẹp như tranh thủy mặc. Trong bức tranh đó có, núi, sông hòa quyện với con người.
Cách chùa Ông chừng 1 km, men theo sườn núi là đến chùa Tam Giáo. Chùa khi xưa có hàng trăm pho tượng phật uy nghi tráng lệ. Ở đây còn có một dòng nước từ trong núi chảy ra. Xung quanh chùa Tam Giáo có rất nhiều hang động đẹp, nhiều nhũ đá với các con vật khác nhau. Cho đến nay, trong quần thể Bát Cảnh Sơn, chùa Tam Giáo là địa điểm thu hút khách du lịch nhiều nhất. Hàng ngày tiếng mõ vẫn vang lên, chốn uy nghiêm Tượng Lĩnh vì thế trở nên linh thiêng.
Cách chùa Ông chừng 1 km, men theo sườn núi là đến chùa Tam Giáo. Một số ngôi miếu, chùa khác như chùa Chùa Bà, chùa Bông, chùa Dâu đến nay không còn dấu vết.
Một số ngôi miếu, chùa khác bị phá hủy phải kể đến như: Chùa kiêu, chùa bà, chùa dâu, chùa vân mộng, chùa bông. Trong đó chùa Kiêu đang trong quá trình xây dựng, chùa Kiêu nằm trên đỉnh núi phía nam xã Tượng Lĩnh, có độ cao chừng 200 m. Đường lên chùa Kiêu cây cỏ um tùm, nhưng con người sẽ tìm được cảm giác thanh thản, khi lên đến đỉnh chùa. Hiện ở đây đã lập am hương, tưởng nhớ các vị anh thần ngày xưa. Những vết tích còn lại của chùa Kiêu phải kể tới như, một nền móng và một động rộng 10 m2. Ngay trước động có ghi: Nhật Nguyệt Trường Quang, tục truyền ngày xưa cứ đêm trăng sáng, Tiên Ông cùng ngồi đánh cờ với các quan nhà trời ở đây.
Từ chùa Kiêu, vượt qua đường đèo và những sườn núi cheo leo là đến chùa Vân Mộng, tương truyền chùa Vân Mông là nơi mà Thiền sư Nguyễn Minh Không đã từng tu hành và trụ trì. Tục truyền, vua nhà Lý bị đau mắt không phương thuốc nào chữa được. Nhà Vua nghe tin tại chùa Vân Mộng có Quỷ Cốc tiên sinh thông tuệ thiên địa bèn đến cầu, quỷ cốc tiên sinh cho rằng nhà vua đau mắt là do động huyệt xoáy rồng ở khúc sông Hồng, cần có người hiến tế thì nhà vua mới khỏi bệnh. Sau có ông bà bán dầu Vũ Phục nhảy xuống sông, quả nhiên nhà vua lành mắt.  Ngôi chùa cũng đã đi vào sách vở với ghi chép của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Kẽm Trống- Nam Thiên đệ Tam Động (Hà Nam)

Cách Hà Nội 80km về phía Nam, Kẽm Trống (xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn) là một danh thắng độc đáo được tạo ra bởi sông Đáy là ranh giới giữa Hà Nam - Ninh Bình. Năm 1962, Kẽm Trống được công nhận là một di tích thắng cảnh quốc gia.
Những dãy núi quanh Kẽm Trống có nhiều hang động. Nhưng được nhắc đến nhiều nhất trong đó là Địch Lộng. Nơi này nổi tiếng bởi ngoài vẻ đẹp của động, còn có một khu đình chùa cổ kính. Quần thể động - chùa Địch Lộng đẹp tới mức đã được vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữ "Nam thiên đệ tam động", có nghĩa là động đẹp thứ ba ở trời Nam. 
Tương truyền, vào năm 1739, một tiều phu đi kiếm củi, leo lên núi đã phát hiện ra cửa động. Khi vào trong, thấy có nhiều nhũ đá đẹp, đặc biệt trông thấy một nhũ đá có hình giống như tượng Phật nên lập bàn thờ Phật ở đó. Đến năm 1740 thì hình thành chùa. Nói Động - Chùa Địch Lộng là nói gọn, chứ thực ra tại đây còn có đình với 16 cột đá nguyên khối, nên còn gọi là "đình đá"; có đền thờ Lý Quốc Sư; hồ bán nguyệt, 5 tháp cao ba tầng; ba gian chùa Hạ, ở gian giữa có treo cuốn thư chữ Hán "Lưu Ly Bảo Điện" nói lên sự quý giá của ngôi chùa... Từ Chùa Hạ qua phủ Đức Ông, tiếp tục leo lên thêm 105 bậc đá nữa sẽ đến hang động khiến bạn không thể không sửng sốt trước sự kỳ diệu của tạo hóa và sức tưởng tượng vô biên của con người. Trên cửa động đề 6 chữ: "Nham Sơn động, Cổ Am tự" là tên "cúng cơm" của Động - Chùa Địch Lộng. Hai bên cửa động có hai tượng Hộ Pháp, trên mái vòm hang đá cao 8 mét treo quả chuông nặng gần một tấn, được đúc từ thời nhà Nguyễn. Sân trước động có phủ thờ Bà Chúa Thượng Ngàn, phủ thờ Đức Thánh Mẫu. Cũng tại đây, hai "giếng ngọc" quanh năm đón những giọt nước từ nhũ đá liên tục nhỏ xuống mát rượi, có tượng ông Thiện, ông Ác cưỡi trên sư tử. Đứng tại "sân" này, phía bên phải là ngôi chùa có "mái" là vòm hang cao khoảng 20 mét, sâu khoảng 30 - 40 mét với khá nhiều tượng được sắp xếp từ ngoài vào trong, từ thấp lên cao. Đặc biệt là 3 pho tượng Tam Thế Phật sơn son thiếp vàng được ban vào thời vua Thiệu Trị và tượng Phật Bà Quan Âm, tượng A Di Đà được tạc bằng đá xanh nguyên khối. Trong động Địch Lộng còn có hang Tối và hang Sáng. Hang Tối nằm ở phía trái. Vào hang, du khách sẽ cảm thấy choáng ngợp bởi khối nhũ đá to, tròn, nhẵn lì mọc từ nền hang nhô lên. Tục truyền, đó là bầu sữa mẹ của tạo hóa. Từ trên nóc động, có nhiều nhũ đá chảy xuống trông giống như những cột chống trời. Tại đây, bạn sẽ có cảm giác như lạc vào cõi trùng điệp của đá với đủ mọi hình dáng ngoạn mục. Mỗi không gian của vách động, trần động là một bức tranh nghệ thuật, những nét chạm khắc tuyệt vời của thiên nhiên, đạt đến mức tinh xảo mà con người không thể nào làm được. Đi hết hang Tối là đến hang Sáng. Ở trên cao, cửa hang Sáng thắt hẹp lại. Một khoảng lộ thiên, khi có gió thổi mạnh vào trong động phát ra âm thanh của đá nghe như tiếng sáo. Vì vậy động mang tên là Địch Lộng, nghĩa là ống sáo thổi gió. Điều độc đáo ở hang Tối và hang Sáng là các thạch nhũ, lấy đá gõ vào thì lanh lảnh như tiếng chuông. Đó là những thạch cầm của thiên nhiên. Đặc biệt hơn nữa là những dải nhũ đá trong hang lấp lánh bảy sắc cầu vồng và mầu sắc thay đổi theo ánh sáng mặt trời. Cùng với nét đẹp mê hồn, Động - Chùa Địch Lộng còn là di tích lịch sử trong kháng chiến chống Pháp và là nơi điều trị cho các nạn nhân của bom đạn Mỹ những năm chiến tranh ác liệt

Chùa Trinh Tiết và những bí ẩn (Hà Nam)

Ban quản lý di tích tỉnh Hà Nam hiện đang  lưu giữ cuốn Ngọc phả Bạch Hoa công chúa chùa Trinh Sơn triều Trần, cuốn sách này do Tiến sĩ Lê Tung soạn ngày 2 tháng 5 năm Hồng Đức thứ 21 (1490), được các nhà nghiên cứu văn hóa tìm thấy ở chùa Trinh Tiết. Theo cuốn Ngọc phả, công chúa Bạch Hoa sinh năm Nhâm Tuất (1382), là con gái của Chiêu Định Vương (tức vua Thuận Tông nhà Trần) và thứ phi Diệu Hiền.  Một lần, thầy tướng Tựu Hòa là bạn của Chiêu Định Vương đến chơi, nói rằng hậu vận của Vương sẽ gặp họa, khuyên Vương nên thay tên đổi họ, rời bỏ triều đình để đi buôn, còn cô gái Bạch Hoa thì nên cho vào chùa nhờ Phật độ mới yên thân được. Chiêu Định Vương không cho là phải, nhưng vẫn đưa 10 lạng vàng biếu tặng. Tựu Hòa không nhận, nói: Tôi đã đủ ăn mặc, không cần vàng bạc, chỉ tiếc lời khuyên Vương chẳng khác gì nước đổ lá khoai. Rồi từ đó Tựu Hòa không qua lại thăm Chiêu Định Vương nữa
 Công chúa Bạch Hoa rất hiếu học, thông làu các sách kim cổ. Khi Chiêu Định Vương lên ngôi vua năm 1388, Bạch Hoa tuy còn nhỏ nhưng đã từng khuyên cha nhiều việc: giảm nhẹ thuế nông tang, khuyến dân cày cấy, đặt các trạm tuần kiểm thu thuế buôn bán, kén người hiền tài giúp nước. Năm 1397, quyền thần Hồ Quý Ly thâu tóm quyền binh trong triều ngoài lộ, ép vua Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Tháng 3 năm Mậu Dần (1398), Hồ Quý Ly bắt Vương đang ở ngôi vua đi tu tại cung Bảo Thanh, nhường lại ngai vàng cho con là Trần Án khi ấy mới 3 tuổi. Không lâu sau đó, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, rồi truy sát những người trong tông tộc họ Trần.
chuatrinhtiet-1.gif
Tòa chính tẩm chùa Trinh Tiết
Bấy giờ công chúa Bạch Hoa 16 tuổi, vô cùng xinh đẹp. Sợ rằng tính mệnh của nàng sẽ bị họ Hồ làm hại, Tựu Hòa đã sai Bằng Cử là một người nhân từ và trung thực, bí mật đưa Bạch Hoa lên thuyền chạy về Kẽm Trống. Bằng Cử hộ tống công chúa tới ngọn Bổ Đà nằm kề bên sông Đáy, để nàng ẩn tích trên một am chùa nhỏ thờ Phật, và đưa cho nàng một ít bạc vụn phòng khi cần dùng đến. Am chùa nhỏ này có tên là Diên Bình tự, đã bỏ hoang nhiều năm ngói xô rêu phủ, quanh năm chẳng có ai ghé qua. Bằng Cử để lại một chiếc thuyền con cho công chúa có phương tiện sang sông, tiện hỏi công chúa pháp danh là gì? Bạch Hoa đáp: Thu Thu. Bằng Cử dặn dò công chúa phải mai danh ẩn tích thật kín để không bị triều đình nhà Hồ tìm thấy và sát hại.
 Tương truyền, công chúa Bạch Hoa ở trên núi Bổ Đà, ăn cơm gạo đỏ, uống nước hạt bách hoa cúc. Đêm ngày, công chúa tụng kinh niệm Phật cầu cho mọi người chung sống yên vui trong cảnh thanh bình, gió thuận mưa hòa, mùa màng tươi tốt. Năm sau (1399), công chúa nhận một cô gái 6 tuổi, người Sơn Trà bên kia sông Đáy, tên là Nguyễn Thị Giáp làm đệ tử, đặt pháp danh là Tuệ Hoa. Công chúa Bạch Hoa thường xuyên chèo thuyền sang thăm bên hữu sông Đáy, vào rừng leo núi hái lá cây làm thuốc, chữa bệnh cho người nghèo khó, nên dần dần nhiều người qua lại thăm, về sau được dân cư sở tại thương mến. Ở núi Bổ Đà những lúc rỗi rãi, công chúa Bạch Hoa thường đến một ngọn núi không tên gần đó, ngắm nhìn phong cảnh trời nước mênh mang của Kẽm Trống, làm thơ vịnh cảnh. Đệ tử Tuệ Hoa hỏi thì công chúa nói: Ta ra đây nghỉ ngơi, viết tập “Cô ai trường hận”. Tuy công chúa chưa từng đọc “Cô ai trường hận” cho bất kỳ ai nghe, nhưng từ đó về sau, dân chúng gọi ngọn núi không tên này là núi Cô Ai.

chuatrinhtiet-2.gif
Cổng chùa Trinh Tiết dưới chân núi Trinh Sơn
 Một tối năm Giáp Tuất (1454) niên hiệu Diên Ninh thời nhà Lê, sư nữ Thu Thu lên chùa khua mõ tụng kinh xong thì gục xuống không dậy nữa, hôm đó là mùng 6 tháng 8. Đồ đệ Tuệ Hoa an táng theo di chúc của sư tại một chỗ đất bằng trên núi Cô Ai. Cùng năm đó, nhân dân sở tại gom tiền tạc tượng Thu Thu bằng đá, đặt thờ ở án hương, bên dưới tượng Phật. Sau khi tổ Thu Thu mất, dân chúng quanh vùng đổi tên núi Bổ Đà thành Trinh Sơn, và đặt tên cho ngôi chùa là Trinh Tiết, dân Thanh Liêm hay dân tứ xứ thường qua lại lễ bái cầu phúc. Những ngày kỵ Tổ, dân sở tại thường dâng cơm gạo đỏ và xôi gấc muối vừng để làm giỗ.
 Theo cuốn Ngọc phả, chúng tôi tìm về chùa Trinh Tiết. Từ thành phố Phủ Lý xuôi hướng Nam đi theo quốc lộ 1, khoảng 15km thấy bên đường có biển chỉ dẫn: Di tích chùa Trinh Tiết-Kẽm Trống. Rẽ phía phải chừng 0,5km, cả một vùng sông nước mênh mang, sơn thủy hữu tình bày ra trước mắt. Thuở xưa, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi đi qua chốn này đã cảm tác bài thơ Kẽm Trống bất hủ.
Ngày nay, danh thắng quốc gia Kẽm Trống thuộc địa phận xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) và xã Gia Thanh (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Sông Đáy khi chảy qua vùng này bỗng trong xanh lạ lùng, được những dãy núi kề sát hai bên tạo nên phong cảnh hữu tình, làm nao lòng các tao nhân mặc khách. Toàn cảnh danh thắng, phía tả sông có núi Rùa, núi Cổ Động, núi Động Xuyên, núi Trinh Tiết; phía bên hữu sông có núi Bài Thơ, dãy núi Bạt Gia. Nhưng tiếc thay, giờ đây hầu hết các núi nằm trong quần thể danh thắng đều bị thay đổi cảnh quan và biến dạng nghiêm trọng, hậu quả của việc khai thác đá. Núi Rùa thì đầu rùa đã bị cụt mất, dọc triền núi vẫn còn vết tích của những cuộc nổ mìn phá đá. Theo chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm vào cửa hang Luồn phía hướng ra sông Đáy thì cửa hang đã bị bịt. Suốt theo chiều dài hơn ba trăm mét của dãy núi Bạt Gia (dân trong vùng còn gọi là núi Kẽm Trống) lởm chởm, lô nhô những sườn núi bị đánh mìn tơi tả.

chuatrinhtiet-3.gif
Voi đá trước chùa Trinh Tiết

 May mắn thay, có hai ngọn núi do đứng tách khỏi khu vực trung tâm Kẽm Trống nên vẫn còn tương đối nguyên vẹn, cây cối phủ um tùm một màu xanh mướt. Người dân nơi đây cho biết hai ngọn này chính là núi Trinh Sơn và núi Cô Ai. Hai ngọn núi này nằm biệt lập với khu dân cư, nên quang cảnh rất hoang vắng. Mặc dù chân núi Trinh Sơn có cổng chùa, nhưng khi leo lên núi chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng vì cảnh quan rất u tịch. Trên đường lên, có nhiều miếu nhỏ. Khi lên tới nơi, gọi là chùa nhưng kỳ thực chỉ là ngôi am nhỏ vắng lặng, tọa lạc trên một mặt bằng khá phẳng chỉ rộng chừng 15m2. Chùa thấp nhỏ mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, hoành tròn, mái lợp ngói nam, kết cấu kiểu chữ Đinh. Vì chùa không có sư, cũng không có người trông coi, nên cửa đóng chặt. Nhìn qua khe chấn song cửa, thấy rõ giữa chùa có tòa chính tẩm tuy rất nhỏ nhưng bài trí 5 lớp tượng. Dưới cùng là tòa Cửu long, lớp thứ 2 là pho tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, lớp thứ 3 là pho tượng nữ giới tạc theo kiểu Phật A Di Đà, lớp thứ 4 là ba pho Tam thế, trên cùng là tượng Phật. Ban đầu, chúng tôi tưởng pho tượng bài trí ở lớp thứ 3 là Phật A Di Đà, nhưng khi xuống núi, được người dân sở tại cho biết đó chính là tượng Bạch Hoa công chúa (tức tổ Thu Thu), có niên đại thời Lê sơ, thế kỷ XV. Tượng Bạch Hoa công chúa được tạc bằng đá, theo kiểu Phật A Di Đà trong tư thế ngồi thiền như người thật, cao 1,2m, tay trái để ngửa, tay phải úp lên đầu gối.
 Kề bên phải chùa có ngôi miếu nhỏ, trong đặt pho tượng Sơn thần. Ngay sát phía dưới lối lên chùa, có tảng đá hình con voi quỳ giống y như thật, nhưng lại không có vẻ là do tạc đẽo tạo hình. Trên đường lên núi, có miếu nhỏ, trong đặt pho tượng tổ sư Thu Thu tạc từ đá Bạch Ngọc, mới được dân trong vùng đưa lên. Ngày nay, cả hai huyện Thanh Liêm và Gia Viễn, có 9 nơi thờ Bạch Hoa công chúa, nhưng ngày giỗ tổ Thu Thu, dân những nơi này đều tụ về chùa Trinh Tiết để tưởng niệm ngài.

Chùa Đọi Sơn (Hà Nam)

Bao đời nay, núi Đọi – sông Châu đã trở thành một biểu tượng tiêu biểu của Hà Nam, quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn đã đi vào tiềm thức  người dân nơi đây như một niềm tự hào về lịch sử văn hoá của mảnh đất quê hương.
 Chùa Đọi Sơn toạ lạc trên đỉnh núi Long Đọi, thuộc địa phận huyện Duy Tiên, cách thành phố Phủ Lý khoảng 8km. Chùa Long Đọi Sơn có tên chữ là Sùng Thiện Diên Linh, được xây dựng vào thời Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông ( khoảng năm 1121). Tương truyền, dưới thời Lý chùa mang tên là Long Đội Sơn, đến thời Hậu Lê đổi tên là Đọi Sơn. 

Cũng có rất nhiều cách lý giải về cái tên Đọi Sơn mà nhân dân quanh vùng truyền nhau như : do núi trông giống hình dạng cái bát úp ( “ bát ” trong tiếng cổ có nghĩa là Đọi : ăn không nên đọi, nói chẳng lên lời.). Núi Đọi nằm ở giữa xã, cao chừng khoảng 400m, chu vi khoảng chừng 2500m. Mặt bằng chùa rất rộng, lưng tựa vào núi Ðiệp với ba dòng sông uốn khúc bao quanh. Ngôi chùa đã được trùng tu nhiều lần, hiện nay chùa còn giữ được nhiều di vật quý như tượng Phật Di Lặc bằng đồng ở chính điện; 6 pho tượng Kim Cương bằng đá, cao 1,60m; bia đá Diên Linh (dựng năm 1121), cao 2,88m, rộng 1,40m và dày 0,29cm, đặt trên đế đá chạm rồng, hình chạm khắc và hoa văn trang trí trên bia mang đậm phong cách thời Lý; 4 pho tượng hình người có cánh cao 40cm, bề ngang 30cm.Quanh chân núi có 9 giếng nước tự nhiên mà dân gian gọi là chín mắt rồng. Từ trên đỉnh núi phóng tầm mắt ra bốn phía, khung cảnh khoáng đạt, nên thơ, có cánh đồng lúa, bãi ngô, ruộng khoai mượt mà, tươi xanh, chân núi có dòng Châu Giang quanh co lượn khúc như dải lụa đào uốn quanh. Quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá tâm linh to lớn. Từ xa xưa tín ngưỡng dân gian đã coi Đọi Sơn là trái “ núi thiêng ”. Thuyết phong thủy nói rằng nơi đây đất phát nghiệp  bá vương: “ Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương, lưu truyền vạn đại.”  Xung quanh chân núi đã phát hiện nhiều mộ cuốn vòm kiểu Hán, đầu người chết quay đầu về núi. Trong quá trình khai quật mộ thuyền ở địa phận xã Yên Bắc các nhà khảo cổ đã phát hiện và chứng kiến nhiều ngôi mộ có đầu nhằm hướng Núi Đọi. Lần theo lịch sử, những di tích đầu tiên được phát hiện ở núi Đọi là khu mộ táng cổ có niên đại trước sau Công nguyên ở khu vực ven Đầm Vực, khu Ao Gấu và gò Con Lợn. Từ khu di chỉ đến chân núi chỉ khoảng 1km. Trong 11 ngôi mộ được tìm thấy có 3 ngôi mộ thuộc loại quan tài hình thuyền, hai ngôi mộ đất kè đá, bốn ngôi mộ dát giường. Các ngôi mộ đều quay đầu vào núi. Chính những phát hiện này càng làm cho vùng đất này mang một nét đẹp kì bí, lạ thường. Cho tới ngày nay, người dân vẫn thường qua lại nơi đây và mỗi dịp lễ, tết để cầu khấn, gửi gắm những nguyện vọng, mong ước của họ.

Chùa Đọi thời Lý xếp hạng là “ Đại danh lam ” kiêm hành cung, thời Pháp từng được liệt vào hạng các cổ tích danh thắng để bảo vệ. Nét đặc biệt nhất của quần thể di tích chùa Long Đọi Sơn phải kể đến là ngôi chùa và cây tháp Sùng Thiện Diên Linh được vua Lý Nhân Tông xây dựng năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118), khởi công vào tháng 5 đến mùa thu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 ( 1121 ) thì được hoàn thành. Tháng 3 năm Nhâm Dần (1122 ) nhà vua mở hội khánh thành chùa tháp. Toàn bộ công trình kiến trúc quý báu đó đã bị quân xâm lược nhà Minh phá hủy. May mắn còn sót lại tấm bia Sùng Thiện Diên Linh và 6 pho tượng Kim Cương, tượng thần Kinaras. Ngôi chùa cũng đã từng trải qua rất nhiều lần tu bổ vào các triều Hậu Lê, Mạc, Nguyễn. Lần tu bổ lớn nhất là vào thời Nguyễn, quy mô chùa trên 100 gian lớn, nhỏ, thiết kế kiểu nội công ngoại quốc. 

Lễ hội chùa Đọi hàng năm mở từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 3 Âm lịch, chính hội vào ngày 21 là một lễ hội thu hút rất đông du khách gần xa đến tham dự và vãn cảnh. Hoạt động thu hút nhất của lễ hội là đám rước kiệu từ chân núi lên chùa nhằm tưởng niệm Lý Nhân Tông và bà Ỷ Lan – người có công xây dựng ngôi chùa. Ngoài ra còn có lễ dâng hương, tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn trời Phật. Lễ hội diễn ra nhiều trò chơi như : chơi cờ người, đấu vật, hát đối…
Đến năm 1992 chùa Đọi được bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc Gia. Quần thể di tích – danh thắng Đọi Sơn ngày càng khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và du lịch to lớn, khắc sâu thêm biểu tượng của quê hương núi Đọi sông Châu trên bản đồ Hà Nam.

Lễ hội Đền Lảnh Giang (Hà Nam)

Các màn diễn xướng hầu thánh với sự kết hợp giữa dân gian và đương đại cùng sự tham gia của các nghệ sĩ trình diễn âm nhạc diễn ra tại lễ hội đền Lảnh Giang từ ngày 23 
Đền Lảnh Giang còn gọi là đền Lảnh, tọa lạc bên con sông Hồng thơ mộng thuộc thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Hằng năm đền Lảnh Giang tổ chức hai kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 âm lịch và tháng 8 âm lịch. Đền còn là một địa chỉ du  lịch hấp dẫn của tỉnh Hà Nam. Các màn diễn xướng hầu thánh với sự kết hợp giữa dân gian và đương đại cùng sự tham gia của các nghệ sĩ trình diễn âm nhạc diễn ra tại lễ hội đền Lảnh Giang từ ngày 23 đến 26 tháng 7.

Đền Lảnh Giang thờ Tam vị Thủy thần đời Hùng Vương thứ 18 và thờ công chúa Tiên Dung, Chử Đồng Tử. Lễ hội đền Lảnh Giang từ bao đời nay vẫn đựợc tổ chức bằng các sinh hoạt dân gian như lễ cáo yết, lễ rước kiệu, trở thành tín ngưỡng  văn hóa ăn sâu vào đời sống tâm linh của người dân nơi đây.

Với chủ trương phục dựng lại các lễ hội xưa nhằm bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đã phục dựng thành công nhiếu lễ hội như Lam Kinh, Kiếp Bạc. Nằm trong chuỗi dự án phục dựng đó, năm nay, lễ hội đền Lảnh Giang được Viện Văn hóa Nghệ thuật kết hợp với địa phương phục dựng và nâng cấp.
Trên cơ sở tài liệu các huyền tích do Sở Văn hóa Hà Nam cung cấp,  ý tưởng năm nay của Ban tổ chức là sự kết hợp giữa dân gian và đương đại vào trong một lễ hội truyền thống. Đây là một nét độc đáo khác biệt của lễ hội đền Lảnh Giang, mà theo ông TS Bùi Quang Thắng, tác giả kịch bản, điều đó sẽ làm nên những nét mới mẻ và sáng tạo của các lễ hội.
Nét độc đáo trong lễ hội đền Lảnh Giang năm nay là sự phục dựng lại các diễn xướng dân gian hầu thánh, tái hiện huyền tích các vị thánh đền Lảnh Giang. Đây là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng khá phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ mà theo TS Nguyễn Chí Bền, sắp tới rất có thể Viện Văn hóa dân gian sẽ nghiên cứu đưa vào danh sách đệ trình lên UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Lễ hội được tổ chức trong toàn bộ diện tích hồ trước đền Lảnh Giang và trong sân đền. Tại hồ phía ngoài phục dựng một sân khấu làm bàn thờ hai tầng trên mặt nước, phía sau là một màn hình lớn vừa làm phông vừa làm màn trình chiếu các hiệu ứng video về "Thủy phủ" của họa sĩ Phạm Văn Trường. Tầng trên là bàn thờ ba vị thánh, tiếp đến là một sân khấu nhỏ, nơi diễn ra các diễn xướng dân gian hầu thánh trong quá trình tổ chức diễn xướng tại hồ.
Huyền tích về các vị thánh đền Lảnh Giang được tái hiện trong ánh sáng và tiếng nhạc lúc kỳ ảo, lúc dồn dập, một bọc trứng lớn xuất hiện nở ra thành các chàng trai vạm vỡ, được vẽ bằng các hoa văn rắn rồng toàn thân (với sự hỗ trợ của 30 họa sĩ đương đại). Một màn hát múa hầu thánh ca ngợi công đức của các vị thánh diễn ra trong suốt sự hiện diện của 3 vị thánh...
Huyền tích được tái hiện trong sự kết hợp giữa âm nhạc của Vũ Nhật Tân, video-art của Phương Vũ Mạnh cùng màn trình diễn Perfomance - art do Phạm Văn Trường hướng dẫn cùng với 20 chàng trai diễn xướng. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, có sự hỗ trợ đắc lực của âm nhạc điện tử, ánh sáng laze và các kỹ xảo hiện đại khác.
Tuy nhiên, nhiều câu hỏi và thắc mắc cũng được đặt ra, một lễ hội mang đậm chất truyền thống như vậy, nếu đưa vào các yếu tố đương đại, loại nghệ thuật mới chỉ coi là những thử nghiệm của giới nghệ sĩ, còn xa lạ với công chúng, liệu có độ "vênh", và những người dân mộc mạc chất phác sẽ tiếp nhận nó như thế nào khi họ chính là những chủ nhân của lễ hội.
Lý giải điều này, đạo diễn Bùi Quang Thắng cho biết: Muốn mỗi lễ hội có bản sắc riêng của mình, mỗi thời đại phải có sự bổ sung, sáng tạo thêm. Việc đưa những yếu tố đương đại vào lễ hội truyền thống một cách nhuần nhuyễn sẽ tạo nên sức hấp dẫn riêng của lễ hội, đó chính là một cách làm mới, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể của ông cha

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Khu Du Lịch Hồ Tam Chúc (Hà Nam)

Khu du lịch hồ Tam Chúc thuộc xã Ba Sao huyện Kim Bảng, cách thị xã Phủ Lý khoảng 12km trên tuyến quốc lộ 21A tiếp giáp với Hòa Bình và cách khu du lịch Hương Sơn khoảng 3km đường leo núi. Tổng diện tích khu du lịch (đã mở rộng) là 4.000 ha, riêng diện tích hồ là trên 600ha. Khu vực hồ Tam Chúc đang được tiến hành lập quy hoạch xây dựng dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo ra khu du lịch sinh thái nghỉ cuối tuần bao gồm các sản phẩm du lịch chính là: du lịch trên hồ, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch leo núi, thể thao và vui chơi giải trí.


Đến đây vào mỗi buổi sớm mai, ngắm nhìn mặt nước, cành cây, ngọn núi… bồng bềnh trôi trên mặt sương mù, ta có cảm giác như đặt chân tới chốn bồng lai tiên cảnh. Khi hoàng hôn đổ bóng, mặt hồ lăn tăn gợn sóng, phản chiếu bóng núi, mây trời khiến cảnh vật càng trở nên lung linh, huyền ảo trong muôn vàn tia nắng. 



Là một trong những hồ nước ngọt tự nhiên có diện tích rộng nhất nước ta, hồ Tam Chúc còn có thảm thực vật phong phú và những ngọn núi nhỏ. Đến Tam Chúc, nhiều người không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn từ xa, núi này có dáng tựa như người đàn ông khổng lồ đang quỳ gối, núi kia trông lại như thảm chuông lớn đang ngân vang giữa núi rừng. Thong thả du thuyền giữa lòng hồ, du khách vừa được chiêm ngưỡng vẻ đẹp núi non kỳ vĩ, vừa nghe những câu chuyện đầy màu sắc huyền thoại đã từng gắn bó hằng trăm năm với những địa danh nơi đây, như: hồ Lục Nhạc, núi Thất Linh, chùa Ba Sao, thung Vạc, hồ Tay Ngai… Ba Sao gắn với truyền thuyết “Tiền Lục nhạc – hậu Thất Tinh”. 

  Ấn tượng đầu tiên khi đến với Tam Chúc – Ba Sao chính là vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ và kỳ thú.

 Từ trên cao nhìn xuống, Tam Chúc đẹp như một bức tranh thủy mặc khổng lồ với những đường nét hoàn toàn tự nhiên do tạo hóa sắp đặt.

Trên dãy núi 99 ngọn nằm ở phía Tây nam hướng về động Hương Tích (chùa Hương) có 7 ngọn núi gần làng Tam Chúc. Trước đây, cả 7 ngọn núi này đều xuất hiện một đốm sáng lớn tựa như 7 ngôi sao, sáng suốt đêm ngày. Ánh sáng lung linh từ trên cao rọi xuống một vùng rộng lớn. Dân làng gọi đó là núi Thất Tinh, chùa Thất Tinh. Sau đó, có người đến núi Thất Tinh đục đẽo, hòng lấy đi 7 ngôi sao đặc biệt. Họ chất củi thành đống lớn và đốt nhiều ngày khiến cho 4 ngôi sao bị mờ dần đi, cuối cùng chỉ còn lại 3 ngôi sao. Vì thế, chùa Thất Tinh sau này được đổi thành chùa Ba Sao và thị trấn Ba Sao cũng được lấy tên gọi từ tích ấy. Khơi nguồn ý tưởng xây dựng Khu du lịch Tam Chúc – Ba Sao thành khu du lịch sinh thái cũng chính từ cảnh đẹp non nước nơi đây. Tam Chúc – Ba Sao hội tụ nhiều yếu tố để trở thành khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng nổi tiếng. Hơn nữa, Tam Chúc có hệ thống giao thông thuận lợi, nằm giáp ranh với Hoà Bình, Hà Nội và chỉ cách chùa Hương 3km đường leo núi.

 Pho tượng đồng Phật tổ Như Lai có chiều cao 15mét, nặng 200 tấn.

Nơi đây là vùng ngập nước núi đá rất độc đáo, với phong cảnh nước non hùng vĩ.

Nhìn từ trên xuống hồ Tam Chúc hiện lên như một bức tranh sơn thủy hữu tình trong không gian mênh mông, thoáng đáng, khí hậu trong lành, tươi mát. Đặt chân đến Hồ Tam Chúc, du khách sẽ thật sự ấn tượng với quang cảnh thiên nhiên vừa hoang sơ vừa kỳ bí, vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng. Đặc biệt, vào mỗi buổi sớm mai, ngắm nhìn mặt nước, cành cây, ngọn núi… bồng bềnh trôi trên mặt sương mù, ta có cảm giác như đặt chân tới chốn bồng lai tiên cảnh. Khi hoàng hôn đổ bóng, mặt hồ lăn tăn gợn sóng, phản chiếu bóng núi, mây trời khiến cảnh vật càng trở nên lung linh, huyền ảo trong muôn vàn tia nắng. Với ưu thế về tự nhiên, đây chắc chắn sẽ là điểm du lịch Hà Nam hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước.
Nguồn Mytour.vn

Chùa Bà Đanh - Núi Ngọc (Hà Nam)

Chùa Bà Đanh còn được gọi là Bảo Sơn tự, nằm ở thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng. Từ thị xã Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú, theo đường 21, đến cây số 7, qua cầu Quế, đi thêm 2km là đến chùa.
Cũng như các ngôi chùa khác, chùa Bà Đanh thờ Phật, song ở chùa Bà Đanh ngoài tượng Bồ Tát còn có tượng của Thái Thượng Lão Quân, tượng Nam Tào, Bắc Đẩu và các tượng của tín ngưỡng Tứ Phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Có tượng của hệ thống Tứ Phủ vì chùa thờ Tứ Pháp.


Chùa Bà Đanh núi Ngọc hà nam
Chùa Bà Đanh núi Ngọc - Ảnh: Sưu tầm

Sự tích Tứ Pháp với các bà mẹ Mây(Pháp Vân), Mưa (Pháp Vũ), Sấm (Pháp Lôi), Chớp (Pháp Điện) như là sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa đã được chép trong Truyện Man Nương của Lĩnh Nam chính quái (Trần Thế Pháp, thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh – Kiều Phú, 1492).
Câu chuyện về gốc tổ Tứ Pháp được hình thành từ mẹ Phật Man Nương đã lan truyền khắp vùng đồng bằng Bắc bộ và cũng được lưu hành ở đây. Người dân Kim Bảng tin rằng, từ khi thờ Tứ Pháp, vùng Bắc Ninh được mưa thuận gió hoà, phong đăng hoà cốc, mùa màng bội thu. Do vậy, họ bèn họp nhau lên xứ bắc để xin chân nhang về thờ. Các làng Vân Lâm, Đặng Xá, Vân Châu, Bầu thôn, Bài Lễ… đã xin chân nhang, tạc tượng Tứ Pháp để thờ, từ đó, tục thờ Tứ Pháp lan truyền ở các xã vùng ven sông Đáy trên đất Hà Nam.
Đường vào Chùa Bà Đanh núi Ngọc  hà nam
Đường vào Chùa Bà Đanh núi Ngọc - Ảnh: Sưu tầm

Dân làng Đanh cũng đang có ý định xin chân nhang ở Bắc Ninh về thờ thì xảy ra một câu chuyện lạ. Địa phương còn lưu hành một truyền thuyết sau: Trước đây, ở vùng này luôn gặp mưa to, gió lớn nên việc sản xuất gặp nhiều khó khăn, mùa màng thất bát gây ra cảnh đói kém triền miên.
 
Cho đến một hôm, một cụ già cao tuổi trong làng nằm mộng thấy một người con gái trẻ trung, xinh đẹp, đoan trang, khuôn mặt phúc hậu, vầng trán và đôi mắt thông minh hiện ra nói rằng: Ta được thần cho về đây để chăm nom và chỉ khu rừng đầu làng làm nơi dựng chùa. Nơi ấy bấy giờ là vạt rừng rậm rạp có nhiều cây cổ thụ, sát bờ sông là một hòn núi nhỏ, nhô mình ra mặt nước, trong rừng rộn rã tiếng chim quang cảnh thật là thần tiên.

Khu di tích Chùa Bà Đanh núi Ngọc hà nam
Khu di tích Chùa Bà Đanh núi Ngọc - Ảnh: Sưu tầm

Ngôi chùa ban đầu được xây dựng tranh tre nứa lá đơn sơ, đến năm Vĩnh Trị, đời Lê Hy Tông, khu rừng mới được mở mang quang đãng để xây chùa lại cho khang trang. Khu vực này cấm người dân làm nhà ở nên cảnh chùa càng thêm trang nghiêm, vắng vẻ. Ngôi chùa được xây dựng ít lâu thì có một cây mít cổ thụ ở quanh chùa bỗng dưng bị gió to quật đổ. Dân làng đã đẵn lấy gỗ để tìm thợ về tạc tượng.

Bỗng nhiên có một khách thập phương tìm đến chùa nói rằng mình làm nghề tạc tượng và được báo mộng đến đây. Người khách tả hình dáng và dung nhan người con gái đã báo mộng thì thấy giống hệt vị thần đã báo mộng cho cụ già trong làng. Năm ấy gặp mùa mưa lũ, nước sông dâng cao, tạc tượng gần xong thì dưới bến nước trước chùa có vật lạ, nửa nổi, nửa chìm, không trôi theo dòng nước, đẩy ra mấy lần lại thấy trôi trở lại.

Chùa Bà Đanh núi Ngọc hà nam
Chùa Bà Đanh núi Ngọc - Ảnh: Sưu tầm

Thấy chuyện lạ, dân làng vớt lên xem thì hoá ra đó là một cái ngai bằng gỗ bèn rước ngay vào chùa. Thật lạ lùng, pho tượng tạc xong thì đặt vừa khít vào ngai. Từ đó trong vùng mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, tiếng đồn Thánh Bà Bảo Sơn linh ứng lan truyền khắp nơi, khách thập phương về lễ rất đông. Những người làm nghề sông nước xuôi ngược qua đoạn sông này gặp mùa lũ đều lên chùa thắp hương cầu mong yên ổn.

Truyền thuyết này có đôi nét gần gũi với truyền thuyết Man Nương, ở những chi tiết như cây gỗ trôi sông (Truyện Man Nương) và ngai gỗ trôi sông (truyền thuyết về Bà Đanh), ở bản chất của vị thần cả hai nơi thờ đều là nữ thần nông nghiệp. Ngoài ra, ở truyền thuyết về Bà Đanh ta còn thấy bóng dáng của tục thờ thần sông nước của nhân dân vùng ven sông Đáy.

Khuôn viên Chùa Bà Đanh núi Ngọc hà nam
Khuôn viên Chùa Bà Đanh núi Ngọc - Ảnh: Sưu tầm

Chùa quay mặt ra hướng nam mạn sông Đáy. Phía ngoài cùng, giáp với đường đi và gần bờ sông là cổng tam quan của chùa. Công trình này được tôn cao vượt hẳn lên năm bậc và hai đầu xây bít đốc. Tam quan có ba gian, hai tầng. Tầng trên có hai lớp mái, lợp bằng ngói nam, xung quanh sàn gỗ hàng lan can và những chấn song con tiện, tầng này sử dụng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim.

Phía ngoài cửa hai bên là hai cột đồng trụ được xây nhô hẳn ra. Trên nóc tam quan đắp một đôi rồng chầu vào giữa. Hai bên cổng chính là hai cổng nhỏ có tám mái, cửa phía trên lượng cong hình bán nguyệt. Ngày thường, khách ra vào lễ chủ yếu đi bằng cửa bên này, chỉ khi nào nhà chùa có đại lễ thì cửa chính ở giữa mới được mở.

Khuôn viên Chùa Bà Đanh núi Ngọc hà nam
Khuôn viên Chùa Bà Đanh núi Ngọc - Ảnh: Sưu tầm

Nối giữa chùa Bà Đanh và núi Ngọc là một bãi rộng trồng cây lưu niên, chủ yếu là vải thiều, nhãn, tùy thời vụ có xen cả ngô lúa. Nằm hoàn toàn biệt lập với khu dân cư, trên núi, dưới sông, gần đền, gần chùa, núi Ngọc quả là một thắng cảnh của đất Kim Bảng, một địa điểm du lịch đầy hấp dẫn.

Chùa Bà Đanh núi Ngọc
Chùa Bà Đanh núi Ngọc - Ảnh: Sưu tầm

Có dịp đến Hà Nam, bạn không nên bỏ qua một chuyến tham quan, vãn cảnh Chùa Bà Đanh Núi Ngọc, để có thể tìm đến chốn thanh tịnh, xua tan đi mọi mệt mỏi, lo toan của cuộc sống và khám phá những nét đẹp về văn hóa, truyền thống nơi đây.
Nguồn: Mytour.vn

Bí ẩn ngôi nhà Bá Kiến làng Vũ Đại (Hà Nam)

Với không gian cổ xưa vẫn giữ được nét kiến trúc độc đáo, ngôi nhà hơn một thế kỷ ở làng Vũ Đại còn chứa đựng những giai thoại bí ẩn chưa lời giải thích. 
Tọa lạc ở ngôi làng nhỏ thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, ngôi nhà này được xây dựng cách đây hơn 140 năm. Chủ nhân ngôi nhà xưa kia là nguyên mẫu cho nhân vật Bá Kiến trong "Chí Phèo", một tác phẩm văn học nổi tiếng của Nam Cao.
 
Ngôi nhà Bá Kiến nằm gần cuối xóm, thấp thoáng sau hàng cau cao.

Ngôi nhà Bá Kiến nằm gần cuối xóm, thấp thoáng sau hàng cau cao. Được xây dựng trên mảnh đất rộng gần 1.000 m2, mặt nhà hướng Đông Nam, phía trước có một cái sân rộng với đủ loại cây trái. Điều này đã tạo nên sự mát mẻ, thoáng đãng cho khu nhà.
 
Nhà có 3 gian theo truyền thống của người Việt Nam. Để vào được bên trong, bạn phải đi qua hai lớp cửa được làm bằng gỗ lim quý hiếm hơn trăm năm mà vẫn còn rắn rỏi.

Nhà có 3 gian theo truyền thống của người Việt Nam. Để vào được bên trong, bạn phải đi qua hai lớp cửa được làm bằng gỗ lim quý hiếm hơn trăm năm mà vẫn còn rắn rỏi. Lớp đầu tiên ngoài hiên để chống nắng mưa. Bước qua lớp cửa thứ hai để vào nhà, bạn sẽ cảm nhận được không gian xưa cũ, mang đậm không khí làng quê Bắc bộ. Trải qua bao mưa gió, ngôi nhà chỉ nhuộm màu thời gian nhưng ít bị hư hại.
 
Điều đặc biệt nằm ở mái ngói của ngôi nhà.

Theo lời kể lại, thì mái nhà này được lợp duy nhất từ loại ngói ta theo kiểu bít đốc cổ truyền, tới nay vẫn chưa bị dột nát. Trước khi đem ngói lợp thì người thợ dùng nước mù hóng đặc ngâm ngói nhiều giờ rồi đem phơi khô. Tiếp theo người ta lấy lần lượt hai viên ngói gõ vào nhau nếu viên nào rạn nứt hoặc vỡ thì bị loại. Để lấy ngói tốt lợp ngôi nhà này nhân công đã phải đốt hàng vạn viên. Những viên gạch ngói đỏ hửng dưới nắng cùng màu xanh của rêu phong và cây cối sẽ để lại những hình ảnh đẹp trong lòng bạn.
 
Nhà Bá Kiến - Không những được làm từ chất liệu gỗ lim quý hiếm, những cây cột, kèo của ngôi nhà đều được chạm khắc hình rồng, phượng rất tinh tế và đẹp mắt.

Không những được làm từ chất liệu gỗ lim quý hiếm, những cây cột, kèo của ngôi nhà đều được chạm khắc hình rồng, phượng rất tinh tế và đẹp mắt. Nếu quan sát kỹ hơn, bạn sẽ thấy dòng chữ Nho được khắc trên nóc nói về thời gian xây dựng ngôi nhà.
 
Nhà Bá Kiến - Một điều thú vị khác ở ngôi nhà này là để xây dựng được nó, những người thợ đã trộn mật mía, bồ hóng vào vôi và thêm một số phụ gia khác để làm thành hồ xây.

Một điều thú vị khác ở ngôi nhà này là để xây dựng được nó, những người thợ đã trộn mật mía, bồ hóng vào vôi và thêm một số phụ gia khác để làm thành hồ xây. Gạch dùng xây tường được nung trên ngọn lửa rơm, cho nên đi qua bao thăng trầm nó vẫn kiên cố và ít hư hao.
 
Những câu chuyện ly kỳ của ngôi nhà được thêu dệt từ lúc nó thuộc về cụ Bá Bính. Còn biết đến là nguyên bản nhân vật Bá Kiến trong truyện Chí Phèo.

Những câu chuyện ly kỳ của ngôi nhà được thêu dệt từ lúc nó thuộc về cụ Bá Bính. Còn biết đến là nguyên bản nhân vật Bá Kiến trong truyện Chí Phèo. Đây cũng là lý do giải thích tại sao ngôi nhà lại gắn liền với tên chủ nhân là nhà “Bá Kiến” nổi tiếng qua bao đời nay.
 
Những câu chuyện này đều xoay quanh sự thành bại và cái chết của các đời chủ nhân của ngôi nhà. Có mẫu chuyện được người dân ở đây kể lại là hiện thân của Chí Phèo quay về trả thù.

Những câu chuyện này đều xoay quanh sự thành bại và cái chết của các đời chủ nhân của ngôi nhà. Có mẫu chuyện được người dân ở đây kể lại là hiện thân của Chí Phèo quay về trả thù.
 
Cô Mai  người trông coi ngôi nhà cũng đồng thời là người sẽ kể cho bạn nghe nhiều câu chuyện về lịch sử, các giai thoại bí ẩn liên quan đến ngôi nhà Bá Kiến

Cô Mai – người trông coi ngôi nhà cũng đồng thời là người sẽ kể cho bạn nghe nhiều câu chuyện về lịch sử, các giai thoại bí ẩn liên quan đến ngôi nhà này. Sự cởi mở, thân thiện và những lời kể ngọt ngào sẽ để lại cho bạn ấn tượng khó quên.
 
Ngoài tham quan công trình kiến trúc và tìm hiểu lịch sử ngôi nhà Bá Kiến, bạn cũng có thể dạo một vòng khu vườn phía trước để tận hưởng không khí làng quê mát mẻ.

Ngoài tham quan công trình kiến trúc và tìm hiểu lịch sử ngôi nhà Bá Kiến, bạn cũng có thể dạo một vòng khu vườn phía trước để tận hưởng không khí làng quê mát mẻ. Bạn còn có cơ hội nếm thử vị chuối ngự đặc trưng của vùng đất này.
 
Từ thành phố Phủ Lý (Hà Nam), bạn có thể men theo con đường tỉnh lộ dọc bờ sông Châu tìm về xóm 11, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Từ thành phố Phủ Lý (Hà Nam), bạn có thể men theo con đường tỉnh lộ dọc bờ sông Châu tìm về xóm 11, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Để cẩn thận hơn, bạn nên hỏi người dân địa phương và tới nơi một cách chính xác. Đi hết con hẻm nhỏ từ chiếc bảng chỉ dẫn ở đầu đường là bạn có thể thấy ngôi nhà Bá Kiến ẩn hiện sau những rặng cây sum xuê cùng hàng cau thẳng tắp.
Nguồn: mytour.vn

Bài đăng phổ biến