Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm du lịch Miền Tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm du lịch Miền Tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Chùa Tuyên Linh (Mỏ Cày-Bến Tre)


Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tôn cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do Hòa Thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn Nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sỹ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh. Dulichgo

Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1962, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh – đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc  tại chùa Tuyên Linh một thời Gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930). Dulichgo

Khi Cách mạng tháng tám 1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết minh không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặc về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.



Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo tháp) tại chùa Tuyên Linh.


Thời kháng chiến chống Pháp, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng Khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương – Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh, vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.
Chùa được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Du lịch, GO!

Sân Chim Vàm Hồ (Bến Tre)


Nằm dọc ven sông Ba Lai thuộc địa phận hai xã Mỹ Hòa và Tân Xuân, huyện Ba Tri cách thành phố Bến Tre chừng 52km, sân chim Vàm Hồ là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn được hình thành từ tháng 5-1986 do đàn chim trước ở Cù lao Đất, xã An hiệp, huyện Ba Tri di cư tới.

Vàm Hồ là vùng đất ngập mặn với diện tích hơn 40ha trong đó có 15ha rừng chà là nguyên sinh, ngoài ra còn có hơn 7ha đước cạnh rừng chà là do người dân Ba Tri trồng. Để đề phòng cháy rừng, nơi đây đã được chia làm 5 khu, đắp đê phòng hộ chung quanh và dẫn nước từ sông Ba Lai vào. Đây là nơi trú ngụ của cò, vạc... và các loài chim thú hoang dại khác cùng với rừng chà là và thảm thực vật phong phú.



Thảm thực vật Vàm Hồ có dừa nước, chà là, đước, mắm ở tầng cao rất lý tưởng cho các loài chim cư trú, còn ở tầng thấp gồm các loại cây chiếm ưu thế như đước đôi, bụp tra, ô rô, cóc kèn, rau muống biển, lau sậy… rất thuận tiện cho cò, vạc làm tổ sinh sản. Theo ghi nhận của các nhà chuyên môn, đàn chim nơi đây gồm 84 loài thuộc 35 họ và 12 bộ với gần nửa triệu cư dân gồm các loài cò, vạc, cồng cộc, diệc xám, quắm trắng, le le… cùng nhiều loại thú hoang như trăn, rắn, sóc, chồn, dơi, kỳ đà… Vào khoảng tháng Tư, chim ở các nơi bắt đầu tụ tập về đây sinh sản, có thể nhìn rõ trên các ngọn đước nặng trĩu những tổ chim, qua đến tháng Tám chúng lại thiên di đi nơi khác.



So với những năm trước, hiện đàn chim có mức độ tăng trưởng 1,5 lần đưa tổng lượng đàn chim lên đến 700.000 cá thể, ước tính 15 chim trên mỗi m², sân chim Vàm Hồ có nguy cơ không còn chỗ cho chim trong vài năm tới. Năm 2009, trong nỗ lực giữ đất lành cho chim đậu, tỉnh Bến Tre đã triển khai dự án bảo tồn sân chim và mở rộng trồng mới 228.749m² rừng chà là gai, tràm bông vàng, dừa nước, đước… ở khu vực I thuộc xã Tân Mỹ, giáp với sông Ba Lai và cách sân chim hiện hữu không xa, nâng diện tích khu bảo tồn sân chim lên hơn 67ha. Huyện Ba Tri cũng có chủ trương sẽ cho đầu tư khai thác du lịch nhưng có quy hoạch từng khu vực để không ảnh hưởng đến môi trường trong lành và yên tĩnh của đàn chim.



Để đến sân chim Vàm Hồ, du khách có thể đi đường bộ từ thành phố Bến Tre theo tỉnh lộ 885 đến thị trấn Ba Tri rồi rẽ vào ngã Tân Xuân, hoặc theo đường sông về phía sông Ba Lai. Đường vào sân chim càng thú vị khi hai bên bờ sông Ba Lai là cả một màu xanh bất tận với các loại cây ổi, mãng cầu xiêm, so đủa, đậu ván, dừa nước… Tham quan nơi đây, du khách có cái thú đi dạo đường rừng hay bơi thuyền len lỏi trong rừng ngập mặn, ghé thăm khu căn cứ kháng chiến xưa, tìm chút cảm giác lạ khi băng qua những chiếc cầu tre lắt lẻo hoặc ngả lưng thoải mái trên những chiếc võng đung đưa dưới những tán lá rừng, đón ngọn gió mát lành từ dòng sông Ba Lai thổi về.



Đến Vàm Hồ vào đúng thời điểm các loài chim “giao ca” đi kiếm mồi, du khách sẽ được sống trong cảnh tượng thiên nhiên kỳ thú, tưởng chừng mình đang đứng ở sân chim Bạc Liêu nổi tiếng của rừng U Minh Hạ. Cứ vào khoảng 4 – 5 giờ chiều, du khách mới thật sự hào hứng khi xa xa về phía Tây, xuất hiện những chấm nhỏ li ti chuyển động và rõ dần, đó là những cánh cò đang vỗ cánh bay qua dòng sông Ba Lai trước khi đáp xuống thảm rừng chà là xanh biếc. Cả một khu rừng yên tĩnh bỗng trở nên huyên náo do tiếng kêu chíu chít của bầy chim con đói mồi hòa cùng tiếng oang oác của những chú cò bực bội do bị quấy rầy… Khi trời vừa sẫm tối và nhà cò cũng đã về đầy đủ đậu trắng các ngọn cây, cũng là lúc họ hàng nhà vạc lại chộn rộn gọi nhau đi ăn đêm, làm thành một hoạt cảnh “giao ca” rất sinh động và kỳ thú…



Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc, ngôn ngữ cũng có âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, tiếng chim vịt kêu chiều chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp, thằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt…


Tới thăm sân chim Vàm Hồ, du khách được đi dạo đường rừng, bơi xuồng len lỏi trong rừng ngập mặn, tham quan khu căn cứ kháng chiến, đi qua những chiếc cầu tre lắt lẻo, ngả lưng trên chiếc võng đung đưa dưới tán lá rừng, hít thở không khí trong lành của dòng sông Ba Lai.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Đình Tiên Thủy (Bến Tre)


Đình Tiên Thủy tọa lạc tại ấp Khánh Hội Đông, xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, cách trung tâm thành phố Bến Tre khoảng 20km về hướng Đông Nam có tổng diện tích là 11.587m2, diện tích xây dựng là 835,18m2.Đình có cấu trúc theo hình chữ Sơn với các gian kiến trúc: võ ca, võ quy và chính điện được xây liền nhau.

Phía sau là nhà chỉnh y, nhà bếp và nhà tiệc. Phía trước có bức bình phong và 4 ngôi miếu: miếu Ông Hổ, miếu Ngũ Hành, miếu Thổ Thần, miếu Bà Chúa Xứ và bàn thờ Thần Nông.
Đình thờ 4 vị thần với 4 sắc phong gồm:  Cao Các Quảng Độ tôn thần, Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, Bổn Cảnh Thành Hoàng, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải và được an vị vào ngày 11 tháng 11 năm Nhâm Tý (1852). Từ đó đến nay, cứ đến ngày này thì tất cả dân làng tập họp lại làm lễ cúng rất long trọng.



Đình chính gồm các nóc: võ ca, võ quy và chính điện với kiến trúc chung là nhà xuyên trính, 3 gian, hai chái. Các cây cột gỗ đứng song song nhau, được gắn kết với nhau từng cặp theo chiều ngang bởi các cây trính và theo chiều dọc mỗi hàng có một thanh gỗ dài xuyên qua 4 cây cột. Trên giữa mỗi cây trính là cây trổng có cối (khối gỗ hình vuông ở chân) và áp quả hình tam giác để chống đỡ đầu 2 cây kèo và đòn dông. Các nóc nối liền nhau tạo thành một thể thống nhất. Mái đình lợp ngói âm dương.


Đình có tất cả 42 cột được làm bằng gỗ căm xe và gỗ lim có chu vi từ 90 đến 100 cm. Nền chính điện lót gạch bông, xung quanh kè gạch thẻ, cao hơn 5 tấc so với tổng thể toàn bộ đình. Các gian còn lại lót gạch tàu. Cột, kèo, đòn tay được kết dính với nhau bằng kỹ thuật mộng chốt, đầu kèo chạm hoa văn trang trí sống động, sắc sảo. Toàn bộ đình được kè gạch thẻ xung quanh, cao hơn sân đình 6 tấc. Nóc đình trang trí long mã hà đồ, long ẩn vân, lưỡng long tranh châu, cá hóa long, cừu, song đăng, rồng,...

Đặc biệt, trên nóc đình chính có một tháp trang trí 4 tranh phong cảnh 4 mặt, nóc trang trí hoa văn đắp nổi, 2 góc tháp đắp nổi 2 đầu rồng quay ra 2 phía. Trung tâm đình là phần chính điện với kiến trúc 3 gian, 2 chái bát dần theo kiểu tứ trụ được trang trí nhiều hoành phi, câu đối, bao lam, thành vọng bằng gỗ rất có giá trị. Các hoa văn, đồ án trang trí của đình đều do một nhóm thợ lành nghề từ miền Trung vào. Sự tài hoa của người thợ thể hiện qua các hình thức trang trí từ chạm nổi, chạm lộng, chạm khắc đến cẩn ốc xà cừ rồi sơn son thếp vàng rực rỡ.

Đáng chú ý nhất là ngay cửa chính vào gian chính điện, đình còn lưu giữ một hoành phi chữ Hán, trang trí hoa lá xung quanh bằng ốc xà cừ với nội dung cũng được cẩn ốc: Tiên Thủy linh miếu (ngôi miếu linh Tiên Thủy) với dòng lạc khoản bên phải là Thành Thái Bính Thân thu (dịch là năm Bính Thân, đời vua Thành Thái, mùa thu tức là hoành phi này được tạo vào mùa thu năm 1896).

Đến năm 1928 (Đinh Mão), đình được trùng tu khang trang do ông Tạ Khắc Dệt đứng ra vận động nhân dân trong vùng đóng góp sức người, sức của. Bởi thế, đình còn lưu giữ nhiểu hoành phi, câu đối, bao lam, thành vọng ghi năm Đinh Mão do nhân dân trong vùng hiến cúng cho đình. Cổng chính của đình hướng Đông Bắc, đình hướng về chánh Đông (sông Tiên Thủy). Hiện tại vẫn còn một cầu dẫn ở sông Tiên Thủy hướng về ngay cổng đình dùng để thả hoa đăng trong mỗi dịp cúng Kỳ yên hàng năm.

Ông Trần Văn Giác, Chánh tế đình Tiên Thủy cho biết: Ngôi đình có lịch sử hàng trăm năm tuổi này đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được nét cổ kính, tinh xảo của kiến trúc xưa. Lần gần nhất ngôi đình được trùng tu là vào năm 1928 và giữ nguyên diện mạo cho đến hôm nay. Ngôi đình có diện tích gần 2.500m2, nằm trong khuôn viên rộng gần 2 ha.



Tương truyền vào năm 1778, Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn và đã đến nơi này. Ông thấy nước sông ở đây trong veo lại có vị ngọt lành lạ thường nên đặt tên sông là Tiên Thủy (nước tiên). Các bô lão trong làng sau đó họp lại và quyết định dựng lên một ngôi đình bằng cây lá đơn sơ tại vị trí Nguyễn Ánh từng trú chân. Đến năm 1852, vua Tự Đức ban sắc phong cho đình vào ngày 11/11. Từ đó đến nay, ngày 10-12/11 Âm lịch hàng năm được chọn làm lễ hội kỳ yên đình Tiên Thủy.


Ông Trần Duy Đăng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Thủy cho biết, lễ hội kỳ yên được tổ chức hàng năm là tín ngưỡng lâu đời của nhân dân trong vùng. Mục đích của lễ hội là cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, mùa màng thuận lợi. Mỗi năm, có hàng ngàn lượt người tham dự và đây là lễ hội truyền thống có quy mô lớn nhất nhì cả vùng.

Tọa lạc ở xứ sở cây lành trái ngọt, cổng đình Tiên Thủy hướng ra sông Đông (tên gọi khác của sông Tiên Thủy). Ngôi đình này nổi tiếng linh thiêng và gắn liền với nhiều giai thoại. Hàng trăm nay nay, đây là chỗ dựa tâm linh vừa thiêng liêng vừa gần gũi đối với người dân địa phương. Đây cũng là nơi nhiều con xa xứ hướng về.



Hàng năm, đình có các lễ cúng: ngày 7 tháng Giêng là lễ Khai sơn; 13 tháng Giêng là lễ cúng Quan Thánh (Quan Công); mùng 10 tháng 3 là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương; 11 tháng 4 là lễ Hạ điền; mùng 10, 11, 12  tháng 11 là lễ Kỳ yên; ngày 11 tháng 12 là lễ Thượng điền. Đặc biệt, lễ Kỳ yên có tổ chức hát bội và du thần.


Đình còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc gỗ độc đáo và các văn bản chữ Hán trên sắc phong, bao lam, liễn đối, hoành phi, khánh thờ,…
Dù trải qua thời gian hơn 150 năm nhưng ngôi đình vẫn còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, thời gian và ảnh hưởng của môi trường đã làm cho đình Tiên Thủy bị hư hỏng nhiều chỗ. Hiện tại đình còn lưu giữ 14 hoành phi, 03 liễn áp cột, 02 hương án, 06 bao lam, 04 khánh thờ, 04 sắc phong cùng nhiều liễn đối, bài vị,… rất có giá trị.

Ngày 20/8/2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Quyết định số   2836/QĐ-BVHTTDL công nhận đình Tiên Thủy (xã Tiên Thuỷ, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre) là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Khu vực bảo vệ di tích đươc xác định theo biên bản và bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ.

Những Món ngon Bến Tre


Bì cuốn, bánh xèo ốc gạo, chuối đập... là những món ăn dân giã thơm ngon tuyệt hảo như chính bản tính con người nơi xứ dừa Bến Tre.


Bến Tre là xứ sở của dừa, những rừng dừa bạt ngàn và đời sống con người cũng gắn bó rất nhiều với cây dừa. Bên cạnh những món ăn ngon được chế biến với dừa, đặc sản Bến Tre còn được nhiều người biết đến với những món ăn dung dị nhưng sự căng tràn phóng khoáng đã được gửi gắm vào từng món ăn dân giã như chính con người nơi đây.



Chuối đập


Món ăn vô cùng đặc trưng của xứ dừa này không những là món khoái khẩu của các cô cậu thích ăn vặt mà còn là nỗi nhớ nhung của những người xa quê. Chuối đập khá khó tìm, thường chỉ bán ở những hàng gánh rong ngoài lề đường. Chuối được lựa chọn phải là chuối xiêm vỏ còn xanh vừa chuyển vàng, người miền Tây hay gọi là “chín hường hường”. Nếu lựa chuối chín quá thì nướng lên bị nhão, không ngon.
Dulichgo
Sau khi bóc vỏ, chuối được cắt lát cho vào túi ni lông đập dẹt rồi cho lên bếp nướng đến khi chuyển sàng màu vàng óng và dậy mùi thơm. Chuối nướng được chấm cùng với nước cốt dừa đặc quánh, là món ăn lót dạ mỗi buổi chiều rất thú vị.



Bánh xèo ốc gạo


Bánh xèo không còn là món xa lạ với người Nam Bộ nhưng bánh xèo ốc gạo lại là món đặc sản của cồn Phú Đa (huyện Chợ Lách - Bến Tre). Cồn này là một trong những nơi hiếm hoi ở miền Tây có số lượng sinh sản của ốc gạo đông đảo nhất. Hàng năm, ốc gạo sinh sôi nhiều nhất vào tháng 4-5 âm lịch, nhưng con ốc gạo đạt đỉnh điểm về số lượng phải vào Tết Đoan Ngọ. 

Ốc gạo thịt trắng đục, béo thơm và thường được chế thành món ốc gạo xào sả ớt và làm nhân bánh xèo thay cho tôm, thịt. Ốc cùng hành tây xắt mỏng được xào chín rồi làm nhân bánh, cuốn cùng rau thơm làm cải bẹ, xà lách, đọt bứa.... mùi vị rất khác biệt. Khi ăn cảm nhận con ốc ngọt, sần sật lẫn trong các mùi rau khiến thực khách cứ muốn ăn mãi mà không bị ngán.



Bánh canh bột xắt


Miền Tây là xứ sở của bánh canh bột xắt, những vùng khác còn gọi là bánh canh bột gạo. Tựu chung, nguyên liệu chính của món bánh canh này là bột gạo, tùy vào cách chế biến mà có tên gọi khác nhau. Để làm bánh canh bột xắt, người nấu phải cán bột ra thớt rồi xắt từng thanh mỏng bỏ vào nồi nên có tên gọi là bánh canh bột xắt.
Dulichgo
Bánh canh bột xắt thường là bánh canh vịt chấm với nước mắm gừng. Nhiều nơi người nấu cho tép non hay tôm khô vào để nước ngọt hơn. Thứ nước lèo trắng đục do bột gạo tạo nên làm cho bánh canh bột xắt khó mà lẫn được với các loại khác. Ở Sài Gòn và một số tỉnh thành khác cũng có phổ biến món này nhưng thưa thớt. Khi ăn bánh canh bột xắt ở Bến Tre, đừng quên kêu thêm chén huyết nếp béo ngậy.



Đuông dừa


Nhắc đến Bến Tre là nhắc đến xứ sở của dừa. “Anh về miền đất xứ dừa/ Nhớ đi thưởng thức đừng chừa món đuông”. Đuông dừa hay còn gọi là sâu dừa - một trong những đặc sản Bến Tre. Phần củ hũ dừa béo ngậy, ngọt là nguồn thức ăn bổ dưỡng giúp cho những con đuông dừa phát triển.

Từ những con đuông dừa, người ta đã chế biến ra rất nhiều món ăn ngon như đuông lăn chiên bột, đuông nướng, thậm chí là ăn sống. Món đuông dừa chiên bột ăn giòn và rất béo. Để giảm độ béo có người ăn kèm với rau sống. Nhiều người sành ăn ở Việt Nam cũng phải công nhận đuông dừa là món ngon được liệt vào “siêu hạng”, vượt hẳn các thức ăn khác.

(Theo VietQ)
Du lịch, GO!

Cồn Ốc (Bến Tre)


Cồn Ốc (còn gọi là cồn Hưng Phong) thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông (có chiều dài 8,3km, rộng hơn 1km). Cồn có diện tích tự nhiên là 647 ha với hơn 500 nhân khẩu

Vào khoảng đầu thế kỷ XIX, Cồn Ốc mới có người đến khai phá và định cư. Từ một cồn nhỏ và thấp ban đầu, nhiều loại ốc bám vào các giống cây ngập nước trên nền phù sa và sinh sôi nảy nở nhanh chóng và sau này trở thành một nguồn lợi đáng kể của dân địa phương - Do đó cồn được đặt tên là Cồn Ốc.



< Một góc sông nước Cồn Ốc.


Cồn Ốc ngày nay hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình.

Cồn có rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.



Đến Cồn Ốc - Hưng Phong, khách như được tìm về với sự ngọt ngào của đất, của tình người tha thiết như người con xa quê nay được trở về với quê hương yêu mến. Xứ đảo với biết bao vẻ đẹp dịu dàng, như tấm thảm xanh trải dài xuôi theo dòng sông Hàm Luông thơ mộng.


Do vậy, Cồn Ốc là một trong những địa danh khơi dậy nguồn cảm hứng dạt dào của các văn nghệ sĩ, hình ảnh của những vườn cây xanh trĩu quả với nhiều chủng loại trái cây ngon: Cam, bưởi, xoài,… những dòng sông, hàng dừa, bến phà và những con đom đóm lập lòe trên những nhánh cây bần trong đêm hay đêm trăng trên sông cũng đủ làm nên những tác phẩm lãng mạn, đậm nét văn hóa miệt vườn của vùng đồng bằng Nam Bộ.



Từng con đường làng nhỏ, những hàng dừa nước đung đưa trong gió, những con rạch nhỏ ngoằn ngèo với hai bên là hàng dừa nước, dòng nước chảy êm đềm như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Hưng Phong thật sự là một điểm du lịch làng quê sông nước đặc trưng hấp dẫn như có sức hấp dẫn kỳ lạ, níu chân biết bao du khách mọi miền đất nước khi về Bến Tre xứ dừa. Đã đến cồn Ốc - Hưng Phong một lần, khách sẽ bị cuốn hút bởi nét đẹp dân dã của một vùng sông nước và những vườn cây ăn trái sai trĩu quả và xứ cồn sẽ trở thành một quê hương thứ 2 với nỗi da diết đến khó tả.



Xứ đảo là nơi giàu truyền thống cách mạng trong kháng chiến, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã làm lay động hàng triệu con tim của những người con quê hương Đồng Khởi trong những năm kháng chiến. Hình ảnh người phụ nữ tên Trần Thị Kế đã đi vào lịch sử đấu tranh hào hùng của quân và dân Bến Tre với câu nói bất hủ: “Chồng con tao ở trong tim tao, bọn bây cứ mổ ra mà lấy”. Tác giả Công Tương (Nguyễn Tấn) đã đem câu chuyện mẹ Trần Thị Kế sáng tác thành nhạc phẩm mang tên “Uất hận dâng trào”. Bài hát được lưu truyền trong vùng giải phóng suốt thời kháng chiến chống Mỹ tạo nên một khúc nhạc hào hùng về tinh thần đấu tranh chống quân xâm lược.



Đến Hưng Phong, du khách sẽ đến tham quan và giao lưu với Ông Đỗ Thành Thưởng thuộc ấp 2 - xã Hưng Phong, người đầu tiên trong tỉnh ra công sưu tầm và lưu giữ trên 20 giống dừa xiêm, dừa ta các loại như: Dừa dứa, dừa xiêm xanh, dừa tam quan, dừa ẻo, dừa bung, dừa dâu,…góp phần tạo nên sự đa dạng cho các giống dừa ở Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ được tham quan vườn dừa đặc chủng, thưởng thức nước dừa tươi mát tại vườn, được “Vua dừa” chia sẽ những kinh nghiệm trồng dừa và thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê, mà lòng người mến khách xứ đảo thiết đãi cho du khách. Chắc chắc rằng, sau khi rời khỏi nơi đây du khách sẽ mãi lưu luyến với nhiều kỉ niệm khó quên trong chuyến tham quan cồn Ốc này.



Hiện nay xã có trên 700 hộ chuyên sản xuất các mặt hàng giỏ cọng dừa, sản phẩm làm ra rất đẹp mắt dùng để cắm hoa, làm giỏ quà tặng, sản phẩm được thương lái ký hợp đồng tiêu thụ ở trong và ngoài nước. Hằng năm, làng nghề cung cấp cho các tỉnh, thành lên đến hàng chục triệu sản phẩm giỏ cọng dừa và gần hàng trăm mặt hàng mỹ nghệ được sử dụng nguyên liệu từ cây, trái dừa.


Hệ thống giao thông ở Cồn Ốc đã được đầu tư nâng cấp tạo nhiều điều kiện thuận lợi để du khách đến với nơi đây. Năm 2011, xã được chương trình nguồn vốn biến đổi khí hậu tỉnh đầu tư hơn 70 tỷ đồng để xây dựng tuyến đê bao Hàm Luông, giúp ngăn mặn và làm lộ giao thông. Những con đường đã tạo nên một vòng xoay quanh cồn để du khách có thể ngắm cảnh đẹp miệt vườn. Trong chương trình tour tham quan trên sông MeKong, Cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm dừng chân cuối cùng của khách du lịch trong hành trình khám phá du lịch Bến Tre.



Cồn Ốc với nhiều điều kiện để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, với dự án xây dựng khu du lịch sinh thái được quy hoạch thành các khu vực như: Khu ẩm thực, nghỉ dưỡng, sản xuất thủ công mỹ nghệ và sinh hoạt văn hóa - giải trí. Chắc chắn trong một tương lai không xa thì du lịch Cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm đến lý tưởng cho du khách khám phá du lịch sông nước miệt vườn Bến Tre, với những nét đẹp văn hóa truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên đủ để “níu chân” những ai đến đây.


Cồn Ốc - Hưng Phong với vẻ đẹp giản dị, luôn mang trong mình nhiều nét đẹp quyến rũ của một vùng quê sông nước miệt vườn. Đến với cồn Ốc du khách sẽ trải nghiệm du lịch sinh thái miệt vườn với biết bao điều thú vị.

Du lịch, GO! tổng hợp

Cổ tích nội thành Bến Tre


Đến Bến Tre, người yêu thích văn hóa thường tìm thăm đình Phú Tự (ấp Phú Tự, xã Hòa Hưng), cách trung tâm thành phố Bến Tre khoảng 2km. Đến đây, bạn sẽ nghe kể về thời lập ấp của những người khẩn hoang.Thời hoang địa, những lưu dân phải thường xuyên đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt và các loài thú dữ nên họ lập ngôi miếu nhỏ bằng tre lá để thờ cúng.

Tương truyền, đình làng Phú Tự có một ban hội hương, đứng đầu là hương cả nhưng những người được đề cử làm hương cả đều chết "bất đắc kỳ tử". Ban hội hương đồng thuận đề cử "ông Hổ" làm hương cả, gọi là Hương cả Cọp. Từ đó, "ông Hổ" như là một vị linh thần che chở, giúp dân làng có cuộc sống bình yên, no ấm. Khoảng trước năm Giáp Thìn- 1904, dân làng làm ăn khấm khá, xây lại miếu thành đình trên mảnh đất 9.695m².



Đình xây hình chữ Tam, có bốn cột cái, mái kéo hình vuông, lợp ngói âm dương. Cột, kèo bằng cây căm xe và gõ đỏ. Hai cặp liễn (treo bốn cột ở trung đình) làm bằng gỗ quý, chạm trổ hoa văn và hình tượng tứ linh, cùng bốn hàng chữ Hán.Dulichgo


Triều Dực Tôn Anh hoàng đế đệ tứ niên (năm Canh Tuất- 1850), vua Tự Đức đã ban chiếu sắc phong cho vị Thần đình Phú Tự là "Thành hoàng bổn cảnh, Cao các quảng độ, Đại càn quốc gia Nam Hải". Nhưng sắc thần bị cháy sau cơn hỏa hoạn. Sáu mươi năm sau, ngày 18-3, năm Canh Tuất- 1910, vua Khải Định ban chiếu sắc phong lại Thần đình Phú Tự. 



Hiện nay, trước tiền đình là đàn Xã tắc thờ Thần Nông. Tại đàn Xã tắc có dựng một tấm bia lớn, mặt ngoài có hai câu liễn, mặt trong khắc hai chữ Thần Nông bằng chữ Hán, hai bên có cặp liễn đối.


Khoảng giữa đàn Xã tắc và chính môn là gốc cổ thụ bạch mai. Đây là 1 trong 3 cây bạch mai có tuổi thọ cao nhất ở Nam bộ (2 cây còn lại, 1 ở Hà Tiên, Kiên Giang; và một ở miếu Cây Mai, TP.HCM). Bạch mai đình Phú Tự trên 300 tuổi, có 9 thân, chiều cao 14m, còn được gọi là "thần mai", "cổ thụ mai", "danh mộc bạch mai".



Hằng năm, vào tiết Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng âm lịch), cây nở bông trắng xóa, tỏa hương thơm nhẹ, nhiều văn nghệ sĩ ở Bến Tre thường tụ tập về đây thưởng lãm, ngâm thơ. Bạch Mai thi hội ra đời vào năm 1994. Dưới tán cổ thụ bạch mai có Bạch Mai bia ký do Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu và Bạch Mai thi hội lập năm 1998, tạc bằng đá hoa cương, một mặt ghi chữ Nôm, một mặt ghi chữ Quốc ngữ. Ngày 10-1-1998, UBND tỉnh Bến Tre công nhận đình Phú Tự và cổ thụ bạch mai là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh. Đầu tháng 11-2013, cây bạch mai được công nhận là Cây di sản Việt Nam. Dulichgo



Đến thành phố Bến Tre, khách hành hương còn thường viếng thăm cúng bái chùa Viên Minh, tọa lạc trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Theo nhiều người, trước khi xây chùa, đây là ngôi miếu nhỏ thờ Quan Công.


Đầu thời Cảnh Hưng nhà Lê, chùa được xây dựng đơn sơ nhỏ hẹp, trên mảnh đất 3.358m2, thờ Phật và Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) nhằm phục vụ tín ngưỡng đồng bào Việt và Hoa. Từ năm 1951 đến 1959, chùa được xây lại và giữ nguyên kiến trúc đến nay. Năm 2002, chùa được tu bổ khang trang hơn. 



Trước sân chùa có tôn trí hai pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đứng uy nghiêm trên đài sen cao 3m, hai bên có cặp hạc chầu và pho tượng Phật Thích Ca cao 7m. Trong chánh điện có hai pho tượng Phật Di Đà và Thích Ca. Đặc sắc nhất là cốt hai pho tượng phật nầy bằng nan tre. Tăng ni, phật tử chùa Viên Minh từng hưởng ứng phong trào đấu tranh khi chánh quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tăng ni phật tử ngày 6-5-1963.


Đầu năm 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre vào thời đó) công nhận Hòa thượng Thích Thiện Tín làm Chánh đại diện chùa Viên Minh. Từ năm 1981, chùa thuộc sự quản lý của Giáo hội Phật giáo tỉnh Bến Tre. Hiện nay chùa là Văn phòng Ban trị sự Phật giáo tỉnh Bến Tre. Dù tọa lạc ngay trung tâm thành phố Bến Tre, nhưng chùa Viên Minh vẫn mang cốt cách thanh nhã, u nhàn.



Nội thành Bến Tre còn có một điểm du lịch sinh thái thơ mộng, êm đềm và hấp dẫn vì huyền tích bi thương. Đó là hồ Chung Thủy. Hồ có tổng diện tích khoảng 2ha. Xưa kia, quanh hồ là bờ đất, cỏ mọc xanh tươi. Từ nhiều năm qua, chính quyền địa phương đã tôn tạo, bờ hồ được cẩn đá xanh, quanh hồ là con đường rộng uốn lượn đẹp mắt với nhiều bồn hoa cỏ và những cây cổ thụ tỏa bóng mát. Dulichgo


Ngồi trên một ghế đá ven hồ, khách ngắm nhìn mặt nước hồ lúc nào cũng xanh biêng biếc... và nghe câu chuyện của thời quá vãng. Rằng, xưa có đôi trái tài gái sắc yêu nhau da diết, hồ là nơi họ hẹn hò tâm tình, mong kết thành đôi. Tiếc thay gia đình hai bên khăng khăng khước từ. Buồn vì duyên tình trắc trở, đôi uyên ương nắm chặt tay nhau nhảy xuống hồ tự vẫn. Cảm thương đôi trai gái tình son dạ sắt, người địa phương đặt tên hồ là Chung Thủy. Quanh hồ là những cây cao bóng cả- nơi thư giãn tuyệt vời gây ấn tượng khó phai cho những ai một lần đến.

Theo Cát Lộc (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Biển Thanh Hải (Bến Tre)


Biển Thạnh Hải (còn có tên gọi là biển Cồn Bửng, biển Hàng Dương thuộc xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) là một trong các bến tiếp nhận vũ khí từ những con 'tàu không số' năm xưa của con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại, ngày nay đang là điểm du lịch thu hút du khách gần xa.

Địa danh này không mới nhưng là điểm đến du lịch lạ đối với du khách thập phương trong khoảng một năm trở lại đây. Đặc biệt vào dịp lễ, tết, loại hình du lịch biển đã thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan, vui chơi và tắm biển. Đa số khách đến từ các địa phương trong tỉnh và từ các tỉnh lân cận như: Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, TP. Hồ Chí Minh…



Từ khi đường giao thông từ Nghĩa trang Liệt sĩ Hồ Cỏ đến biển Cồn Bửng hoàn thành, con đường đã tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến tham quan, tắm biển ngày càng đông. Nhất là từ khi khởi công giai đoạn I Dự án Bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển tại Bến Tre. Cùng với đó là nhiều dịch vụ đi kèm bắt đầu phát triển và đi vào nề nếp.


Để đến với biển Thạnh Hải, khách phương xa sẽ đi theo quốc lộ 57 rồi rẽ sang đường Cồn Rừng. Hết đường này lại theo đường Cồn Bửng. Tại đây, bạn sẽ có cảm giác thích thú khi được chạy xuyên qua cánh rừng đước bạt ngàn cùng những cánh đồng dưa hấu trải dài đến tiếp giáp phía chân trời.



Với người lữ khách, đặc biệt là những ai đã từng gắn bó với nơi đây sẽ cảm nhận hết sự đổi thay mới mẻ trên vùng đất này. Đây là cả một quá trình không ngừng đấu tranh mạnh mẽ của con người nơi đây để bảo vệ rừng thẳm, biển xanh, bám đất, giữ làng, đương đầu với bom đạn, hóa chất độc hại thời chiến tranh.. rồi nhận lại sự phát triển của quê hương ngày hôm nay.


Trên những cánh đồng dưa ấy, hàng ngày vẫn luôn có bóng dáng con người cần mẫn lao động từ mùa dưa đến mùa đậu, sắn, khoai... Thú vị hơn: nếu thích, bạn có thể thả bộ xuống cánh đồng dưa để tham quan, tìm hiểu và tận tay lựa chọn những trái dưa no tròn, xanh bóng rồi mua về thưởng thức với giá cả thật bình dân.



Cuối con đường nhựa phẳng lì là biển mênh mông như được dát vàng bởi ánh mặt trời chiếu rọi buổi sáng. Có lẽ vì còn khá mới mẻ, chưa lắm ồn ào, tấp nập khách tham quan như những bãi biển lớn nổi tiếng nên biển Thạnh Hải vẫn còn nguyên vẹn sự trong lành, sạch sẽ, yên bình và hoang sơ.


Biển Thạnh Hải rất lài bên những rặng dừa lao xao bên bờ biển xanh. Từng đợt thủy triều đưa những con sóng nhấp nhô ập vào bờ tung bọt trắng xóa, mang theo thật nhiều vỏ ốc viết nhòn nhọn nằm trên bãi cát vàng. Cách để bạn nhận biết con ốc viết còn sống trên bãi là thế này: ốc sẽ dựng vỏ thẳng đứng xuống cát chứ không ngã ngang.



Du khách chơi biển tại đây được miễn phí sử dụng bàn ăn, lều, võng, tắm biển... chỉ thu phí giữ xe với giá rất mềm. Tắm xong, bạn có thể chọn ghế hay võng để nghỉ ngơi và thả hồn ra biển. Nhưng đến biển mà không thưởng thức đặc sản hay nghỉ lại qua đêm để có thể đắm hồn trước cảnh mặt trời mọc hay hình ảnh hoàng hôn của biển thì xem như mất hết một nửa điều thú vị. Muốn ăn hải sản, bạn có thể lựa mua tại chỗ rồi nhờ người bán chế biến với chi phí nấu nướng dao động từ 10k - 20k/kg. Đa phần hải sản là sản phẩm được săn bắt hay nuôi trồng tại chỗ nên giá rất rẻ. Các phòng nghỉ không xa biển, giá rất phải chăng.



Một số nơi có thể tham gần đó có thể kể như: Miếu Bà Chúa Xứ; viếng Lăng Ông Nam Hải được xây dựng từ năm 2004, nơi lưu giữ 2 bộ xương cá Ông nặng hơn 130 tấn; Vàm Khâu Băng: đầu cầu tiếp nhận vũ khí của con đường HCM trên biển; Cồn Lợi, Cồn Lớn: du khách trong và ngoài tỉnh có thể đi bằng đường bộ hoặc đường thủy rất thuận tiện; rừng ngặp mặn Thạnh Phú...


Cũ nhưng là cũng là mới, biển Thạnh Hải - Cồn Bửng có thể là điểm đến cuối hè này của bạn và gia đình?

Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!

Bài đăng phổ biến