Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm du lịch Bắc Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điểm du lịch Bắc Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Làng Tranh Đông Hồ (Bắc Ninh)

Đây là một làng nghề vẽ tranh dân gian nổi tiếng của Việt Nam. Xưa kia làng có tên làng Mái là một làng nhỏ ở sát bờ nam đê sông Đuống, cách Hà Nội chừng ba mươi km về hướng đông.
Hiện làng còn giữ gìn được cách làm tranh cổ xưa nhất của vùng đất Kinh Bắc. Đó là làm tranh trên giấy dó (giấy được làm bằng cây dó giã nhỏ, lọc và cán mỏng), màu vẽ làm từ chất liệu thiên nhiên như gạch non, lá cây, rễ cây đốt thành than mài ra. Muốn có màu nền lấp lánh, những người làm tranh sử dụng vỏ sò, vỏ điệp nung lên thành vôi, giã nhỏ, trộn nhựa cây phết đều lên giấy dó để tạo sự độc đáo.


Ghé thăm làng tranh Đông Hồ

Bức tranh Đám Cưới Chuột nổi tiếng - Nguồn: sưu tầm


Tranh làng Ðông Hồ không phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người dùng ta dùng ván để in. Ðể có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu. Những người vẽ mẫu và bản khắc ván đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt phải có trình độ kỹ thuật cao. Công đoạn in tranh có lẽ không khó lắm bởi lẽ ai cũng có thể phết màu lên ván rồi in.

Ghé thăm làng tranh Đông Hồ

Một bản khắc in của tranh Đông Hồ - Nguồn: sưu tầm


Sau khi in thành tranh, kể cả cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên. Các màu đã hoà quyện in tranh thường lấy từ chất liệu thiên nhiên : màu đen người ta phải đốt lá tre rồi lấy than của nó ; màu xanh lấy từ vỏ và lá tràm , màu vàng lấy từ hoa hòe , màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây vang, màu sơn lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp...Những năm gần đây có một số người khi in tranh đã từng dùng một số màu và hoá chất hiện đại, như thế sản phẩm có tăng nhưng chất liệu màu của tranh không tươi màu sắc nét như tranh làm truyền thống. Ðã thế, chỉ trong một thời gian ngắn màu sắc bị phai nhạt.

Ghé thăm làng tranh Đông Hồ


Người nghệ nhân già tỉ mỉ vẽ tranh - Nguồn: sưu tầm

Ðã có một thời gian tranh dân gian Ðông Hồ bị lãng quên nên nghề làm tranh mai một ít nhiều. Không ít hộ bỏ làm tranh chuyển sang làm đồ vàng mã. Những vài năm trở lại đây người Ðông Hồ lại hoan hỉ trở lại với nghề tranh nhiều hơn bởi người dân của ta đã lại nhận ra vẻ đẹp trong sự mộc mạc giản dị của tranh Ðông Hồ là không thể thiếu được trong cuộc sống thường nhật, nhất là ngày Tết.

  Ghé thăm làng tranh Đông Hồ


Một phòng trưng bày tranh - Nguồn: sưu tầm
Nguồn: Mytour.vn

Đền Đô- Ngôi đến Vua Chúa ở Bắc Ninh

Nhắc đến vùng đất địa linh nhân kiệt Cổ Pháp – Đình Bảng, Bắc Ninh, ngày nay, là nhắc tới một trong ba “tam cổ” nổi tiếng lịch sử, thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp. Đất Cổ Pháp là nơi thắng địa bậc nhất Kinh Bắc, vượng khí linh thiêng. Đây là một vùng có nhiều hồ, đầm lầy, sông Tiêu Tương uốn khúc quanh co, thế đất mang hình con nhện, xòe ra như cánh hoa sen. Đó là huyệt đất quý, phát tích đế vương - ứng với 8 vua nhà Lý, hưng thịnh kéo dài tới 216 năm. Hiện nay, tại làng Đình Bảng, Bắc Ninh, còn đậm dấu ấn anh linh của các vị đế vương. Nơi đó chính là đền Đô còn gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế nơi thờ 8 vị vua nhà Lý.


Den do de vuong nha Ly

Đền Đô đậm dấu ấn anh linh các vị đế vương - Ảnh: Khoa Linh


NGÔI ĐỀN LỊCH SỬ


Có đến thăm đền Đô, bạn mới thấy vì sao nơi này lại khắc đậm hào khí Thăng Long, ghi đậm dấu ấn lịch sử. Đền Đô được xây dựng vào thế kỷ XI, ngày nay nằm ở phường Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, cách thủ đô Hà Nội khoảng 20km. Đền được dựng trên nền đất mà xưa khi vua Lý Công Uẩn đăng quang và trở lại thăm quê hương. Theo sử sách, dân làng Đình Bảng đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn làm nơi nghênh tiếp nhà vua. Khi vua Lý Công Uẩn băng hà, Lý Thái Tông lên ngôi kế vị vua cha, ông đã cho sửa sang lại ngôi nhà xưa và chọn làm nơi thờ tự vua cha và cũng từ đó đền trở thành nơi thờ tự các vị vua nhà Lý sau khi băng hà.  

Den do de vuong nha Ly

Nơi thờ tự các vua họ Lý - Ảnh: Thang Nguyễn


Đến nay, đền Đô thờ 8 vị vua nhà Lý là Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông.
Trải qua thời gian dài và do chiến tranh tàn phá, nên đền Đô đã được tu sửa và mở rộng nhưng vẫn theo đúng hình dáng và kiến trúc ban đầu. Kiến trúc của đền có sự kế thừa phong cách cung đình và dân gian được kết hợp hài hòa, chạm khắc tinh xảo. Đền Đô nằm trong khuôn viên rộng hơn 31.000m². Các công trình trong khu đền sắp xếp hài hòa với thiên nhiên khoáng đạt.

Den do de vuong nha Ly

Kiến trúc long đao cong vút - Ảnh: Danny Tran


Den do de vuong nha Ly

Đền Đô nằm trong khuôn viên khoáng đạt, xanh tươi - Ảnh: Khoi Tran


Cổng vào nội thành đền Đô gọi là Ngũ Long Môn với hai cánh cổng có trạm khắc hình năm con rồng. Mỗi khi cánh cổng này mở ra, sẽ như hình dáng con rồng bay lên cao vút. Trung tâm của đền Đô là khu chính điện trang nghiêm. Tại đây có điện thờ vua Lý Thái Tổ với hai con hạc trầu hai bên, điện thờ quanh năm ghi ngút khói hương.

Den do de vuong nha Ly

Ngũ Long Môn ở đền Đô - Ảnh: Khoi Tran


Den do de vuong nha Ly

Hai cánh cổng Ngũ Long Môn mở như thế rồng bay lên nhìn ra chính điện - Ảnh: sưu tầm


Bên trong điện thờ chính, một bên ghi "Chiếu dời đô" của vua Lý Thái Tổ với đúng 214 chữ, ứng với 214 năm trị vì của 8 đời vua nhà Lý. Phía bên phải là bài thơ hào hùng nổi tiếng – như một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta "Nam quốc sơn hà Nam đế cư...” của Lý Thường Kiệt. Phía sau ngôi chính điện là nhà hậu cung, nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của 8 vị vua nhà Lý.

Den do de vuong nha Ly

Chính điện đền Đô thờ vua Lý Thái Tổ có hai chú voi nằm phủ phục hai bên - Ảnh: Ngo Minh Truc


Bên trong khu đền Đô còn có bức cuốn thư “Chiếu dời đô” với chiều cao 3,5 mét, rộng hơn 8 mét, được ghép lại từ 214 chữ Hán làm bằng gốm Bát Tràng. Đây được coi là bức chiếu thư bằng gốm Bát Tràng lớn nhất Việt Nam.

Den do de vuong nha Ly

Bức cuốn thư “Chiếu dời đô” bằng gốm Bát Tràng - Ảnh: Phạm Hồng Phước


Trong nội thất khu đền còn có nhà chuyển bồng, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái, 8 đao cong mềm mại, nhà tiền tế, nhà để kiệu thờ, nhà để ngựa thờ. Đặc biệt, phía Đông đền có nhà bia, nơi đặt Cổ Pháp Điện Tạo Bi (bia đền Cổ Pháp). Tấm bia đá này được khắc dựng năm 1605, do tiến sĩ Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi lại sự kiện lịch sử nhà Lê xây dựng lại đền Đô và ghi công đức của các vị vua triều Lý.

Den do de vuong nha Ly

Kiến trúc mái chồng như những cánh hoa xòe - Ảnh: Dần Lê 

Den do de vuong nha Ly

Nhà bia Cổ Pháp Điện Tạo Bi - Ảnh: Đăng Định


Khu ngoại thất đền Đô gồm nhà vuông, nhà chủ tế, nhà kho, nhà khách và đền vua Bà (thờ Lý Chiêu Hoàng, còn gọi là đền Rồng). Hai bên tả hữu đền Đô là nhà thờ quan văn và quan võ tiêu biểu nhất trong suốt 216 năm của vương triều nhà Lý. Nhà văn chỉ ba gian chồng diêm rộng nằm bên trái khu nội thành thờ Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành, những quan văn đã có công lớn giúp nhà Lý. Nhà võ chỉ có kiến trúc tương tự nhà văn chỉ, ở bên phải khu nội thành thờ Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Đào Cam Mộc là những quan võ tài lược.
Ở ngoại thất đền Đô còn có nhà Thủy đình làm bằng gỗ lim chắc chắn, chạm khắc hoa văn tinh xảo. Nhà Thủy đình nằm trên hồ bán nguyệt, được nối với quảng trường bằng chiếc cầu đá. Đây là nơi thường diễn ra nghệ thuật múa rối nước và cũng là nơi để các liền anh liền chị Bắc Ninh ca câu quan họ thắm thiết.

Den do de vuong nha Ly

Khung cảnh tuyệt đẹp ở Thủy đình đền Đô - Ảnh: Khoa Linh


Den do de vuong nha Ly

Hồ bán nguyệt là nơi thường có biểu diễn quan họ - Ảnh: sưu tầm


Nhà Thủy đình từng được Ngân hàng Đông Dương xưa chọn là hình ảnh in trên "giấy năm đồng vàng" và là hình in trên đồng tiền xu 1.000 đồng hiện nay.

Den do de vuong nha Ly

Thủy đình trong đồng tiền giấy ngày xưa - Ảnh: bubuchoixu


Đền Đô với kiến trúc độc đáo có giá trị nghệ thuật, cảnh trí hữu tình và mang trong mình một giá trị lịch sử văn hóa đậm nét của vương triều Lý nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung.

Den do de vuong nha Ly

Đền Đô đậm giá trị nghệ thuật và lịch sử - Ảnh: Khoa Linh


Một lần đến Bắc Ninh, ghé thăm đền Đô, bạn sẽ có những giây phút thư giãn thú vị, thả hồn về lại những ngày tổ tiên ta dựng nước, ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc!

THÔNG TIN DU LỊCH BẮC NINH


Lễ hội đền Đô được tổ chức vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 Âm lịch hàng năm nhằm kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang, ban "Chiếu dời đô". Đây cũng là lễ hội truyền thống có từ lâu đời và trở thành phong tục đời sống văn hóa tinh thần được nhân dân Đình Bảng lưu giữ.

Den do de vuong nha Ly

Lễ hội đền Đô - Ảnh: Đào Việt Dũng



Ngoài dịp về dự hội dâng hương tưởng niệm 8 vị vua nhà Lý, bạn còn có thể vãn cảnh vùng đất Kinh Bắc tươi đẹp. Bạn có thể đến thăm làng gốm Phù Lãng, đền Bà Chúa Kho, làng tranh Đông Hồ, chùa Dâu… Và Bắc Ninh, hãy tìm về không gian quan họ, bên mái đình làng cổ nghe các liền anh liền chị trao gửi câu hát giao duyên ngọt ngào.
Nguồn: mytour.vn

Về ngày Hội Lim (Bắc Ninh)

Với những người sinh ra và lớn lên tại Kinh Bắc hay bất kỳ ai đã một lần được đặt chân lên mảnh đất này, dường như đều cảm thấy rằng mỗi bước chân, mỗi hơi thở ở vùng quê ấy đều thấm đẫm những dấu ấn văn hóa và lịch sử của dân tộc. Từ những công trình kiến trúc mang dáng dấp cổ xưa đến những lễ hội truyền thống đặc sắc, thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa vùng miền. Đến hẹn lại lên, hội Lim vào mỗi dịp xuân về như níu chân du khách thập phương trong nỗi niềm hân hoan, háo hức.


Hội Lim, truyền thống văn hóa đất Kinh Bắc

Hội Lim, truyền thống văn hóa đất Kinh Bắc - Ảnh: Sưu tầm


Mùa xuân nay lại về tìm,
Bắc Ninh quan họ hội Lim quê nhà.
Tiên Du làn điệu dân ca,
Tháng giêng mở hội mười ba chính ngày.

Quê hương của Hội Lim đầy yên bình

Quê hương của Hội Lim đầy yên bình - Ảnh: Chrjs


Hội Lim là một lễ hội lớn ở tỉnh Bắc Ninh, được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng hàng năm tại huyện Tiên Du. Đây được coi là một nét văn hóa lâu đời và đặc trưng cho vùng Kinh Bắc. Thời gian chuyển động cũng không làm mai một đi truyền thống ấy, đến ngày nay hội Lim đã vượt qua không gian văn hóa vùng miền, trở thành một trong những điểm dừng chân ngày xuân của du khách muôn nơi.

Bắc Ninh như một điểm dừng chân đầy thi vị mỗi dịp xuân về

Bắc Ninh như một điểm dừng chân đầy thi vị mỗi dịp xuân về - Ảnh: Sưu tầm


Nhắc về nguồn gốc của Hội Lim, bên cạnh những những câu chuyện lưu truyền trong dân gian về tiếng hát của chàng Trương Chi trong truyền thuyết Trương Chi – Mỵ Nương mà dấu vết xưa để lại là hình dáng dòng sông Tiêu Tương uốn lượn ở những làng quê vùng Lim. 
Còn có giả thuyết cho rằng Hội Lim liên quan đến câu chuyện của nàng cung nữ thời nhà Lý, nhận được ơn vua về chăm sóc mẹ già ở quê nhà, lấy chồng và không cần quay vào cung nữa. Nhưng tuổi thanh xuân đã gửi lại chốn thâm cung, quá lứa lỡ thì, khi mẹ qua đời, cô quyết định lên vùng đồi Lim, tu tạo và phục dựng ngôi chùa bị bỏ hoang đặt tên là Hồng An Tự (ơn đức của vua). Sau này cô cung nữ chết ở chùa, người dân trong vùng nhận thấy ngôi chùa rất linh thiêng. Lớp người kế cận và cũng được coi là sư tổ của chùa Lim ngày nay là Mụ Ả, người làng Duệ Nam, Nội Duệ.

Dòng Tiêu Tương với những truyền thuyết độc đáo về nguồn gốc Hội Lim

Dòng Tiêu Tương với những truyền thuyết độc đáo về nguồn gốc Hội Lim - Ảnh: Changtraikinhbac

Với lịch sử phát triển lâu đời, nhưng hội Lim không bị ảnh hưởng bởi sự đô hộ ngàn năm của phong kiến phương Bắc, mà vẫn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Không gian lễ hội lấy đồi Lim làm trung tâm và diễn ra tại 3 địa phương bao quanh là: xã Nội Duệ, xã Liên Bão và thị trấn Lim. Hội Lim được tổ chức trong vòng khoảng 3 – 4 ngày trong đó ngày 13 được coi là phần chính của lễ hội.

Hội Lim tưng bừng ngày lễ tháng giêng

Hội Lim tưng bừng ngày lễ tháng giêng - Ảnh: hoanglongphoto


8 giờ sáng ngày 13/1 âm lịch, Hội Lim bắt đầu bằng lễ rước. Trong ngày này, lễ hội tổ chức các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng làng, các thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy, dâng hương cúng Phật, cúng bà Mụ Ả ở chùa Hồng Ân. Bên cạnh đó, lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm và đặc sắc hơn cả, được mong chờ hơn cả là phần hát hội.

Lễ rước thành hoàng làng tại Hội Lim

Lễ rước thành hoàng làng tại Hội Lim - Ảnh: Sưu tầm


Về với hội Lim, nghe những điệu Quan họ trữ tình, cùng các liền anh liền chị hát câu giao duyên, đó là niềm mong mỏi của du khách thập phương. Những câu ca quan họ dường như đã trở thành một phần linh hồn của vùng quê Kinh Bắc, trên khắp mọi nẻo đường, trong từng ngôi nhà, từng nếp sống đều hiển hiện những giai điệu đầy sức cuốn hút, êm ả, nhẹ nhàng ẩn chứa phong vị cuộc sống đời thường đó.

Hát Quan họ len lỏi trong từng ngõ ngách của cuộc sống xứ Kinh Bắc

Hát Quan họ len lỏi trong từng ngõ ngách của cuộc sống xứ Kinh Bắc - Ảnh: Coaoc


Du khách thập phương náo nức về Hội Lim

Du khách thập phương náo nức về Hội Lim - Ảnh: Sưu tầm


Trong không gian tràn ngập những giai điệu dân ca ấy, người ta dường như cảm nhận được cái tình đời, tình người ở mảnh đất được coi là cội nguồn của văn hóa Bắc Bộ này. Ở khắp mọi nơi từ không gian đồi Lim rộng lớn, từ những sân đình, cửa chùa, từ dòng sông Tiêu Tương hiền dịu, đến khắp các con đường làng, ngõ xóm đều là hình ảnh những những liền anh khăn xếp áo the, liền chị áo mớ ba mớ bảy, nón quai thao, dập dìu nhau đi trẩy hội.

Nô nức chào đón hội Lim

Nô nức chào đón hội Lim - Ảnh: sưu tầm


Từng câu ca quan họ đầy thi vị được cất lên không chỉ thể hiện tình cảm nam nữ, tình yêu của con người với vạn vật, yêu quê hương đất nước mà còn là khát khao mãnh liệt về một cuộc sống tươi đẹp và niềm tự hào về những truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc.

Hội Lim với khao khát về cuộc sống và tình yêu

Hội Lim với khao khát về cuộc sống và tình yêu - Ảnh: Đăng Định



Về với hội Lim để cảm nhận một không gian lễ hội truyền thống của dân tộc, để thấy cái lòng của người dân nơi đây trong việc bảo tồn và phát triển những bản sắc lâu đời nhất. Có lẽ vì thế mà Hội Lim đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, là tài sản nghệ thuật đầy sức hút của đất nước Việt Nam. Đến một lần rồi háo hức chờ đón lần sau, dường như, những câu ca quan họ ở xứ Kinh Bắc huyền thoại đều ẩn chứa một sức mê hoặc lòng người.
Nguồn: Mytour.vn

Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh)

Ở miền đồng bằng Bắc bộ, dân gian có câu nói  truyền tụng: "cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài", Nam là Sơn Nam (Nam Hà, Thái Bình, Hải Hưng, nơi có nhiều cầu đá), Bắc phía Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, nổi tiếng với những chùa cổ, tiếng hát quan họ), Đoài ở hướng Tây (Hà Tây, Sơn Tây, rất hãnh diện với những đình làng lớn đẹp như đình Tây Đằng, đình Chu Quyến). Ninh Phúc Tự là một trong các chùa cổ ấy nằm trên bờ sông Đuống hiền hòa cách Hà Nội khoảng 25km, còn được gọi chùa Nhạn Tháp vì thỉnh thoảng có những con chim nhạn bay về đậu trên đỉnh các tháp. Chùa tọa lạc ở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, được vua Tự Đức đặt tên chùa Bút Tháp vì tháp Báo Nghiêm trông tựa cây bút lông. 
Chùa nằm trong vùng Siêu Loại (tên quê hương Nguyên phi Ỷ Lan) có thành cổ Luy Lâu, làng tranh dân dã Đông Hồ, đền thờ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân - Âu Cơ, nơi phát tích đạo Phật với những chùa Phật Tích, chùa Keo, chùa Dâu tức Cổ Châu Tự. Theo truyền thuyết, chùa Bút Tháp được xây dựng từ thế kỷ 13, dưới đời vua Trần Thánh Tông, nhưng như nhiều chùa chiền xưa ở nuớc ta, vật liệu xây dựng là tre, gỗ nên khó chịu đựng được sức tàn phá của thời gian, dễ bị hủy hoại.

Vị tu sĩ trù trì đầu tiên ở chùa là Thiền sư Huyền Quang (1254-1334), quê gốc làng Văn Ty, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Dưới đời vua Trần Thái Tông, tưong truyền có bà mẹ họ Lê nhân nằm mộng thấy một con khỉ đội mũ vuông, mặc áo vàng, phóng vào bụng bà một mặt trời đỏ, từ đó thụ thai mà sinh ra Thiền sư. Thi đỗ Trạng nguyên năm 20 tuổi, bổ làm quan Viện Hàn lâm, có tài ứng đối, thông thạo kinh nghĩa, không có ý sắc dục. Ngài xuất gia năm 51 tuổi. Ngài là vị tổ thứ ba dòng Lâm tế, có cho xây một ngôi tháp chín tầng, trang trí hoa sen, loại cối xay cầu nguyện, ngày nay là Tòa Cửu Phẩm. Qua thế kỷ 17, Hòa thượng Chuyết Công, quê gốc Phúc Kiến, có công xây dựng làm chùa nổi tiếng, sau khi viên tịch được vua Lê phong Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Kế nghiệp là vị đồ đệ xuất sắc Thiền sư Minh Hành (1644) quê gốc Giang Tây. Cuộc điều khiển xây dựng của hai vị giải thích ảnh huởng Trung Quốc trong kiến trúc chùa. 
Vào lúc nầy, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc tức Diệu Viên và con gái Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên tức Diệu Tuệ được chúa Trịnh cho phép bỏ công sức thiết lập quy mô kiến trúc căn bản cho ngôi chùa. Qua đầu thế kỷ 18, chùa được các quan viên họ Lê như Luân Quận công, Dĩnh Quận công, Thế Thái Hầu, Ninh Lộc Hầu,...cùng với Nhu Thuận quận chúa họ Trịnh bỏ tiền mua sắm gỗ gạch tu bổ, lại thêm được dân làng mời thợ sửa sang cho khang trang hơn. Sang thế kỷ 20, Tổng đốc Ninh Thái là Hoàng Trọng Phu thấy chùa hoang vắng liền thu tập tiền của trùng tu sửa chữa. Nói chung, từ thế kỷ 17 đến nay, chùa đã được trùng tu non mười lần, lần cuối cùng những năm 1990-1993, chùa được tạo dựng hoàn toàn, hiến cho ta ngày nay một kiệt tác nghệ thuật kiến trúc khá nguyên vẹn, chứa đựng một số chứng tích, di vật điêu khắc độc đáo, hiếm có niên đại nhiều thế kỷ.

Kiệt tác nghệ thuật nầy được thực hiện một phần lớn, như đã thấy, là nhờ công lao của hai mẹ con Hoàng thái hậu Ngọc Trúc và Công chúa Ngọc Duyên. Năm 1619, chúa Trịnh Tùng bắt vua Lê Kính Tông tự tử rồi lập Hoàng tử Duy Kỳ lên ngôi, lấy hìệu Lê Thần Tông. Người thông minh, học rộng, nhà vua còn bị Trịnh Tùng ép lấy con gái mình là Ngọc Trúc đã có chồng là Lê Trụ bị xử trảm và bốn con. Làm vua đến 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi lại cho con là Thái tử Duy Hữu tức Lê Chân Tông rồi đưa Ngọc Trúc về Thanh Hóa xây dựng chùa Mật, nay đã hoàn toàn bị phá. Bên phần Hoàng thái hậu, số phận long đong, cũng muốn nương nhờ cửa Phật, bèn cùng các thân nữ lại chùa Phật tích nghe Thiền sư Chuyết Chuyết giảng kinh. Từ đấy, bà xin vua cha cho phép trùng tu chùa Bút Tháp đang đổ nát để sau nầy chính thức xuất gia. Công chúa Ngọc Duyên tình nguyện cúng các ruộng lúa làm chi phí. Khi chùa hoàn thành, Thiền sư dời sang trù trì, Hoàng thái hậu cùng các con gái, các hoàng thân ở cung vua phủ chúa cũng kéo nhau về đó. Năm 1644, khi Thiền sư Chuyết Chuyết viên tịch, Thiến sư Minh Hạnh đến nay trù trì chùa Phật Tích và đã nhiều lần được gởi qua Trung Quốc thỉnh kinh, sang Bút Tháp kế nhiệm.

Trong số các kiểu chữ tam, chữ đinh, chữ công định nghĩa theo hình thức, kiểu nội công ngoại quốc đã được chọn : bên ngoài hình chữ khẩu hay chữ quốc bao quanh bảy tòa nối liền Tiền đường đàng trước với Hậu đường (hay Nhà Hậu, thờ Thánh Tam tòa, Tứ phủ, các sư tổ) phía sau ; giữa hai tòa ầy nối tiếp nhau qua những khoảng trống lộ thiên, từ ngoài vào là Tiền đườngThiêu Hương, Thượng đìện, Tích Thiện Am (hay Tòa Cửu Phẩm), Nhà Trung, Phủ Thờ.Nếu Tiền đường, Thiêu Hương và Thượng đìện dính với nhau, sắp thành chữ công, hai Nhà Trung và Phủ Thờ tách rời riêng biệt, còn Thượng đìện  Tích Thiện Am được nối nhau qua một cây cầu đá. Hai bên những tòa nhà nầy là hai hành lang 26 gian dài hơn 100m chạy suốt dọc chùa. Ngoài tổng thể nầy, toàn bộ hướng về phía nam, hướng của trí tuệ, bát nhã, trước chùa có Tam Quan trống rỗng, bỏ ngỏ tỏ rõ tấm lòng từ bi đức Phật luôn mở rộng đón nhận tất cả kiếp người và Gác chuông hai tầng tám mái khá cao, tầng trên lát gỗ lim đen bóng, ở giữa quả chuông đồ sộ đời Gia Long thứ 14 (1815) ; hai bên có hai nhà bia (1647 : Xây dựng chùa Ninh Phúc ; 1674 : Cúng ruộng cho Tam bảo chùa Ninh Phúc) ; sau có các Tháp Tôn ĐứcNi ChânTâm Hoa ; hai bên hông có Tháp Bảo Nghiêm, Nhà tổ và nhữngTháp mộ các thiền sư.

Trong số các tượng hình trong chùa Bút Tháp, có tiếng nhất là pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn tức Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay, kiệt tác của nền điêu khắc Việt Nam. Cao 370cm, đường kính vành tay 224cm, tượng được đặt trong Thượng điện cùng với những tượng Tam Thế, các vị Bồ Tát như Thích Ca Tuyết Sơn, Văn Thù, Phổ Hiền,...và hai dãy 18 vị La Hán sát tường hai bên. Dưới bệ tượng có ghi tên người khắc là một ông họ Trương, sau mười năm nghiền ngẫm, làm xong mùa thu năm Bính Thân (1656) nghĩa là tác phẩm thuộc về loại sớm nhất trong nghệ thuật điêu khắc Phật giáo ở nước ta. Hóa thân Quan Âm của đức Avalokitesvara hàm nghĩa là nghe tiếng kêu than của chúng sinh để đến cứu độ. Tay tượng gồm có 42 tay lớn không cầm pháp khí (kim cương, chử, vòng, chuổi hạt, hạt châu,...) như thường lệ, 958 tay nhỏ tạo thành 7 vòng tay. Các cánh tay nhịp điệu khác nhau, trong lòng mỗi bàn tay mang một con mắt, kết thành một vần hào quang quanh đầu, trên có hình Diệu âm điểu Kalavinka tượng trưng cho Phật pháp vĩnh cữu. Tích Phật kể Ngài lo nghĩ nhiều cho đời nên đầu vỡ thành nhiều mảnh, Phật A Di Đà cảm thông đã dùng phép thuật vô biên biến hóa mỗi mảnh thành một bộ mặt để tăng thêm pháp lực cứu độ chúng sinh. Vì vậy, xếp thành 4 tầng, Ngài có 11 bộ mặt tượng trưng cho những đức tính cần thiết trước để đức Bồ Tát, sau để giúp chúng sinh đạt đến giác ngộ. Đức Quan Âm ngồi thiền định, bàn chân mặt ngửa trên đùi trái theo thế bán kiết già, trên một tòa sen Rồng đội. Con rồng nầy là hóa thân của Long Vương Upananda, thêm vào những sinh vật ngao, ốc, cua, hến,...lặn lội giữa những lớp sóng động của Thủy cung, hàm ý Phật pháp thuấn nhuần thế gian.

Trong Thượng điện, đức Quan Âm còn có mặt qua ba pho tượng Quan Âm Tọa Sơn, hai pho bằng gỗ thế kỷ 17-18, một pho bằng đất thế kỷ 19-20, cao 140cm, khuôn mặt thanh tú. Trong các pho nầy, Ngài ngồi chân mặt gập, bàn chân dẫm xuống đất, đầu gối cao ngang ngực, chân trái ngả nằm trên mặt bệ, theo kiểu Thanh nhàn đế vương Maharaja lilasana. Tượng Tuyết Sơn cao toàn bộ 222cm, còn gọi Tây Thiên Đông đô lịch đại tổ, trình bày chân dung Thái tử Thích Đạt Đa khi đi tu ép xác ở núi tuyết, cơ thể, mặt mày rõ ràng đau khổ. Trong Phật điện Việt Nam, thường có hai thị giả được thờ hai bên đức Phật Thích Ca, hai hình tượng được xem là sớm nhất trong ngành điêu khắc Phật giáo Việt Nam là hai pho Văn Thù và Phổ Hiền. Văn Thù Sư Lợi tức Manjushri, cao 125cm, dịu hiền, sắp bên mặt, là vị Bồ Tát của trí năng, người chiến thắng bóng tối và ngu dốt. Tay cầm kiếm Kim Cương đoạn diệt mê hoặc, Ngài ngồi trên lưng sư tử mà sức mạnh là biểu tượng cuộc tồn sinh và năng lực phát sinh nên Ngài cũng là vị Bồ Tát của sự giác ngộ. Phổ Hiền Bồ Tát tức Samanthadra, cao 180cm, sắp bên trái, được xem là vị Bồ Tát hộ vệ những ai tuyên giảng đạo pháp. Ngồi trên voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí tuệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan, Ngài được kê trong Phật Đài Nhật Bản, cũng là một trong bốn Đại Bồ Tát Trung Quốc. Trú xứ của Ngài là núi Nga Mi, nơi Ngài lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Độ sang Trung Quốc.

Chùa không quên ơn các vị đã bỏ công của ra trùng tu chùa nên trong Phủ Thờ có tượng của Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595-1660) tức Chúa bà Kim Cương, tượng hai Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (1615-1664), Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và tượng Thái Tử Lê Đinh Tứ. Khi xây chùa Mật, vua Lê Thần Tông có cho tạc chân dung mình và sáu bà hoàng. Hiện nay tượng vua và năm hoàng phi được đặt tại Thái miếu nhà Lê ở Thanh Hóa. Ở chùa Bút Tháp, các chân dung chịu ảnh hưởng của các tượng chùa Mật, có lẽ vì được cùng các nghệ nhân tạc khắc, tuy không sâu sắc bằng. Vẻ mặt cao quý, tượng các bà hoàng được đặt trong các khám thờ trang trọng. Ở giữa, tượng bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Trúc, cao 95cm, không còn giữ y phục vương triều mà được khoác áo tu hành giản dị. Khuôn mặt cương nghị, đôi mắt mở to tỏ ra một người đã từng sống và đã từng trải qua những cơn đau khổ. Hai bên tượng hai Công chúa Ngọc Duyên và Quận chúa Ngọc Cơ, cao 120cm, đội mũ phượng, xiêm y có chạm hoa văn, cách tạo hình trang trọng và rực rỡ như chân dung ở chùa Mật. Còn pho tượng nam giới là Thái Tử Lê Đinh Tứ cao 170cm. TrongNhà tổ, có hai tượng Thiền sư Chuyết Chuyết (1590-1644) tức Chuyết Công, cao 95cm và Thiền sư Minh Hành (1595-1659) pháp hiệu Tại Tại, có mặt vuông vức, mũi gồ. Rải rác ở Thượng điện và Hậu đường còn có một số loạt tượng chân dung hoàng thân, sư tổ, khó xác định tên tuổi từng người. Vua Trần Nhân Tông, thuở ban đầu chùa Bút Tháp, đã có gởi lòng thủ phận trong một bài thơ thiền bằng chữ Hán. Dịch : (trích sách của Phan Cẩm Thượng)
Ai trói mà tìm phương giải thoát
Không phàm hà tất kiếm thần tiên
Vượn nhàn, ngựa mỏi, người già yếu
Vẫn trước am mây với sập thiền.
Phải trái trôi theo hoa rụng sớm
Danh lợi lạnh lòng trận mưa đêm
Hoa tàn, mưa lạnh, núi non lặng
Cuối xuân sót lại một tiếng chim.
Tòa Tích Thiện Am, như tên gọi có nghĩa chứa điều lành, xây từ năm Tân Dậu 1681 đến năm Tân Mùi 1691 như thấy ghi trong tấm bia, còn được gọi Cửu phẩm liên hoa vì giữa tòa có đặt một cối kinh bát giác cao 7,8m, bằng gỗ 9 tầng, thể hiện 9 kiếp tu của đức Thích Ca. Tháp mang ý nghĩa cửu phẩm vãng sinh về thế giới cực lạc của đức Phật A Di Đà. Theo nghi thức Phật pháp Mật tông nguồn gốc Tây Tạng, tháp quay có mục đích nhân lời tụng lên nhiều lần (3.542.400 lần khi quay một vòng tháp!), từ đó con người càng chóng chứng quả Phật pháp hơn. Bên cạnh nhiều pho tượng Phật và các vị Bồ Tát, tám mặt của tháp có chạm những bức phù điêu liên quan đến tích nhà Phật, khuyến thiện trừ ác, hành trang các vị tổ, đại sư. Tầng một : Hoa tàng thế giới, Sa bà thế giới. Tầng hai : Anan kết tập, Di Đà thuyết pháp. Tầng ba : Tín thụ tác lễ, Cực lạc thế giới. Tầng bốn : Thiền sư, Lục tổ. Tầng năm - tầng tám : 8 vị Phật, tổng cộng 32 vị. Tầng chín : 4 tượng Di Đà và hai hàng chữ : Cửu phẩm liên hoa, A Di Dà Phật. Đục chạm tinh xảo, sắp xếp hoàn hảo người vật, cây Cửu phẩm chùa Bút Tháp là một trong ba cây ở Việt Nam, đều nằm trong địa bàn phát triển của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.
Tòa Tích Thiện Am nối liền với Thượng điện qua một cầu vồng đá cong bắc ngang qua hai hồ sen mang tên Bích Da. Được hai con sư tử bảo vệ ở phía đầu, cầu dài 4m, gồm 3 nhịp uống cong, mặt cầu lát đá xanh, trên lan can có 12 bức chạm khắc đá, nối tiếp 26 bức trên lan can tòa Thượng điện. Cao 14cm, rộng 130cm, những bức nầy được phân bố cân đối, hợp lý, chạm khắc công phu, tinh xảo, trang trí nhiều đề tài giới hạn trong lĩnh vực chim (cò, phượng, hạc, vẹt), thú (ngựa, thỏ, dê, hươu, cá, khỉ, rồng, kỳ lân, tê giác, sư tử), cây (tùng, mai), hoa (cúc, sen, lan, hướng dương, phù dung, loa kèn) và thiên nhiên (mặt trăng, mặt trời) trong những hoạt cảnh truyền thống (phượng múa kỳ lân, đôi cá vờn trăng, sư tử vờn cầu, đôi lân quyết đấu, năm rồng gặp biển, năm ngựa cùng phi,...). Trong một nơi nghiêm chỉnh, những bức chạm khắc đá nầy là những hình ảnh vui tươi, sống động quen thuộc trong dân gian. Những cây hoa được chọn trong số những loài tượng trưng cho tính cách tốt đẹp của con người : mai (sự trong trắng), lan (sự cao quý), tùng (khí phách người quân tử),...Những con vật huyền thoại được trình bày trong một trạng thái hư thực nhưng phản ảnh đời sống : rồng chầu mặt trời (thăng hoa tột đĩnh), phượng múa bên hoa phù dung (tài tử giai nhân trong thiên hạ),... Những bức chạm khắc đá nầy lẫn lộn khô khan, giáo điều với ngẫu nhiên, hứng thú, khi rõ ràng, khi khó hiểu, nhưng thực hiện khéo léo, tinh vi, vừa làm vừa lòng những bậc tôn giả, vừa gây vui thích đám dân quê mộc mạc. 
Sau cùng, bàn đến chùa Bút Tháp không thể quên tháp Báo Nghiêm. Đây là nơi thờ Thiền sư Chuyết Chuyết, người có công lớn xây dựng chùa. Tháp đá cao 13m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh ; ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,30m. Hai vòng tường cột và lan can bao quanh phần bệ tượng. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc. Tháp có 23 bức chạm đá lấy các cây hoa và chim thú làm đề tài chủ yếu như những bức ở Thượng điện vàCầu đá : 8 bức ở chân lan can, 8 bức ở tầng một chân tháp, 7 bức ở tầng hai tháp. Ta gặp lại những chim (cò, hạc, phượng), thú (hổ, rồng, hươu, ngựa, dê, cua, cá, kỳ lân, sư tử), hoa (sen, hướng dương, phù dung). Ở đây, ngoài vài hoạt cảnh đã thấy ở trên (hạc múa kỳ lân, sư tử vờn cầu,...) có vài màn mới (dê núi dưới trăng), đặc biệt có mặt con người (người quỳ nâng tháp, vị quan và con hạc). Nói chung tất cả các bức chạm khẳc đá đều thống nhất với nhau về mặt chất liệu, phong cách, từ đấy niên đại. Hình ảnh sống động, chan hòa tính chất nghệ thuật thiên nhiên, giúp thêm ý nghĩa đạo Phật.
Được bộ Văn hoá xếp hạng Di tích Quốc gia từ tháng tư 1962, Bút Tháp là một ngôi chùa cổ có quy mô kiến trúc lớn của đồng bằng Bắc bộ còn đuợc bảo tồn khá nguyên vẹn đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục hài hòa với môi trường thiên nhiên. Những pho tượng chân dung hoàn chỉnh nhất được xem là khuôn mẫu tạo hình cho những giai đoạn sau. Có vài yếu tố mang đậm dấu ấn Trung Quốc trong kiến trúc đã được kết hợp một cách hài hòa với các yếu tố văn hóa truyền thống của Việt Nam. Cho đến ngày nay, chùa Bút Tháp vẫn giữ trong mình những giá trị đặc sắc được tích tụ trong mỗi quá trình tồn tại của mình. Hằng năm, mỗi dịp xuân về, hội chùa Bút Tháp lại được diễn ra trong niềm vui náo nức và lòng sùng kính của khách hành hương. Đến với lễ hội, tăng ni phật tử cùng du khách thập phương không chỉ được chiêm ngưỡng những pho tượng cổ nổi tiếng mà còn được hòa mình vào không gian văn hóa đặc sắc của lễ hội vùng quê bên bờ nam sông Đuống với trò chơi đánh đu, đấu vật, chọi gả, thả chim, ca hát quan họ, diễn chèo... Không chỉ vào dịp lễ hội, chốn danh lam cổ tự Bút Tháp còn là điểm đến thường xuyên của đông đảo du khách gần xa. Đồng thời đang trở nên một trung tâm du lịch, chùa còn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử văn hóa của vùng quê văn hiến Kinh Bắc - Bắc Ninh.

Bài đăng phổ biến